- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN N DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BẾN TRE Bản án số: 94/2018/HNGĐ – ST Ngày: 29/11/2018 V/v tranh chấp: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN N DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Phạm Quang Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Võ Thị Mai.
Ông Đặng Hoàng Mích.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Long Hồ – Thư ký Tòa án Nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Ngân – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2018, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Bình Đại xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 363/2018/TLST – HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2018 về tranh chấp: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 201/2018/QĐXXST–HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phan Thị Minh T, sinh năm 1995 (Có mặt).
Địa chỉ: ấp M, xã X, huyện Y, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1988 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp L, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 27/6/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Phan Thị Minh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh N chung sống với nhau vào năm 2013 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào năm 2013 tại UBND thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
Trong thời kỳ hôn Nhân chị T và anh N chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên N dẫn đến mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường hay cãi vã. Chị T và anh N sống ly thân chấm dứt mọi quan hệ tình cảm vợ chồng từ tháng 9 năm 2017 cho đến nay.
Chị T thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa. Vì vậy chị T làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị T được ly hôn với anh Nhân.
Về con chung: Chị T khai, chị T và anh N có 01 người con chung tên là: Nguyễn Công D, sinh ngày: 28/5/2014 hiện đang sống chung với chị T. Chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu D cho đến khi cháu D đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung; Về nợ chung: Chị T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đối với anh N, Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ 02 đến phiên tòa xét xử, nhưng anh N vẫn vắng mặt không có lý do.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án không đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án:
Yêu cầu khởi kiện của chị T là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chị T được ly hôn với anh N.
Về con chung: Giao cháu D cho chị T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Ghi nhận chị T tự nguyện không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung; Về nợ chung: Chị T khai không có nên không xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trang 2
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
Chị Phan Thị Minh T khởi kiện yêu cầu xin được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng N và yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung. Do đó quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Theo xác nhận ngày 27/6/2018 của Công an thị trấn T, huyện Y. Anh Nguyễn Hoàng N có đăng ký thường trú tại: ấp L, thị trấn T, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre và hiện đang sinh sống tại địa phương. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo trình tự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại.
Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn là anh Nguyễn Hoàng N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 đến phiên tòa xét xử nhưng anh Nguyễn Hoàng N vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt anh Nguyễn Hoàng N.
4] Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh N chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 88/2013 ngày 13/11/2013 do Ủy ban nhân dân thị trấn Bình Đại, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Do đó quan hệ hôn N giữa chị T và anh N là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Trong thời kỳ hôn N do hai bên bất đồng quan điểm sống nên dẫn đến mâu thuẫn, mất lòng tin với nhau, sự việc được gia đình hai bên hòa giải khuyên ngăn nhưng chị T và anh N vẫn sống ly thân từ tháng 9 năm 2017 cho đến nay vẫn không hàn gắn tình cảm vợ chồng. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tổ chức hòa giải để tạo điều kiện cho chị T và anh N hàn gắn tình cảm nhưng những lần hòa giải anh N đều vắng mặt không có lý do. Điều đó chứng tỏ anh N đã không còn quan tâm đến quan hệ hôn N này và mâu thuẩn hai bên đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn N không đạt được.
Từ những nhận định nêu trên, căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T và anh N.
Về con chung: Chị T và anh N có 01 người con chung tên là: Nguyễn Công D, sinh ngày: 28/5/2014 hiện đang sống chung với chị Thơ. Chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu D cho đến khi cháu D đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.
Trang 3
Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện nay cháu D đang sống chung với chị T vẫn đảm bảo tốt về thể chất lẫn tinh thần, nhằm tránh xáo trộn cuộc sống của cháu, do đó giao cháu D cho chị T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại Điều 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình: Sau khi ly hôn cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Chị T tự nguyện không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con nên ghi nhận.
Về tài sản chung; Về nợ chung: Chị T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên ghi nhận. Nếu sau này anh N có tranh chấp về tài sản chung; về nợ chung thì khởi kiện vụ án khác.
Đối với lời phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn N và gia đình: Buộc chị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Điều 51, 56, 57, 58, 59, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn N và gia đình năm 2014.
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phan Thị Minh T đối với anh Nguyễn Hoàng N. Chị Phan Thị Minh T được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng N.
[2] Về con chung: Chị Phan Thị Minh T và anh Nguyễn Hoàng N có 01 người con chung tên là: Nguyễn Công D, sinh ngày: 28/5/2014.
Giao cháu Nguyễn Công D cho chị Phan Thị Minh T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận chị Phan Thị Minh T tự nguyện không yêu cầu anh Nguyễn Hoàng N cấp dưỡng nuôi con.
Trang 4
Anh Nguyễn Hoàng N không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với chị Phan Thị Minh T.
Anh Nguyễn Hoàng N không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Phan Thị Minh T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Nguyễn Hoàng N.
Anh Nguyễn Hoàng N cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của chị Phan Thị Minh T.
Chị Phan Thị Minh T cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Nguyễn Hoàng N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con .
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con.
Trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì trên cơ sở lợi ích của con, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn N và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
[3] Về tài sản chung; Về nợ chung: Chị Phan Thị Minh T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên ghi nhận. Nếu sau này anh Nguyễn Hoàng N có tranh chấp về tài sản chung; về nợ chung thì khởi kiện vụ án khác.
[4] Về án phí sự sơ thẩm đối với vụ án hôn N và gia đình: Buộc chị Phan Thị Minh T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Phan Thị Minh T đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số: 0018142 ngày 13/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại. Chị Phan Thị Minh T đã nộp đủ án phí.
[5] Về quyền kháng cáo:
Chị Phan Thị Minh T có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Hoàng N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án N tỉnh Bến Tre giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - UBND trấn Bình Đại, huyện Bình Đại; - VKSND huyện Bình Đại; - Chi cục THAD huyện Bình Đại; - TAND tỉnh Bến Tre (P.KTNV & THA); - Lưu hồ sơ vụ án. Trang 5 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Quang Hải |