- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn giữa chị Ngô Thị Kiều Ng với anh Trần Anh T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Ngô Thị Kiều Ng và anh Trần Anh T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 94/2018/HNGĐ-ST Ngày: 23 – 10 - 2018 V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Phấn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Huy Lợi
Ông Hồ Viết Tùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bích Hà, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An: Không tham gia phiên tòa.
Trong ngày 23 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án Nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 111/2018/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2018 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2018/QĐST ngày 02 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Kiều Ng, sinh năm 1993. Địa chỉ: Số 8, ngõ 125, đường Ng, khối M, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Trần Anh T, sinh năm 1991. Địa chỉ: Al. Krakowska 67C – 23, nhà số 1, quận Lesznowola, tỉnh Mazowiecki – Cộng hòa Ba Lan. Nơi ĐKHKTT trước khi xuất cảnh: Phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn đề ngày 27/8/2018, lời khai chị Ngô Thị Kiều Ng trình bày: Chị và anh Trần Anh T kết hôn với nhau trên cơ sở tình yêu tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 16/01/2015 tại Uỷ ban nhân dân phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 7 năm 2015 anh T làm thủ tục xuất cảnh lao động tại Ba Lan được một thời gian ngắn thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Chị đã bàn bạc với anh T để vợ chồng hàn gắn tình cảm nhưng không níu kéo được và đã lâu hai người không quan tâm gì đến nhau kể cả vật chất lẫn tinh thần. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị Ng yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Anh T.
- Về con chung: Chị và anh Trần Anh T không có con chung, nên không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết;
- Vợ chồng không nợ ai cũng không có ai nợ vợ chồng nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về phía anh Trần Anh T: Sau khi thụ lý vụ án anh Trần Anh T đã biết được chị Ngô Thị Kiều Ng làm đơn xin ly hôn anh gửi tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Tại Bản tự khai và Đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 03/9/2018, anh Trần Anh T đã có quan điểm về việc giải quyết vụ án mà chị Ngô Thị Kiều Ng xin ly hôn anh như sau: Anh Trần Anh T thừa nhận, điều kiện, thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn và mâu thuẫn vợ chồng đúng như chị Ngô Thị Kiều Ng trình bày. Nay chị Ng yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, anh T đồng ý.
- Về con chung: Vợ chồng không có con chung, không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản và nợ chung: Vợ chồng không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Trần Anh T hiện đang ở nước ngoài, điều kiện khó khăn không thể về tham gia phiên toà được, nên đề nghị Toà án giải quyết và xử vắng mặt anh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Anh Trần Anh T hiện đang ở nước ngoài không thể về nước để hoà giải và tham gia phiên toà được. Ngày 03/9/2018 anh T đã có quan điểm về việc giải quyết vụ án và đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt. Đối với chị Ngô Thị Kiều Ng ngày 22/10/2018 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nhưng vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện. Căn cứ khoản 2 điều 207; khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc trường hợp không hoà giải được và Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh Trần Anh T và chị Ng theo quy định.
Về nội dung: Tại phiên tòa mặc dù chị Ngô Thị Kiều Ng vắng mặt, nhưng vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện, yêu cầu được ly hôn với anh Trần Anh T. Xét thấy; chị Ng và anh T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 7 năm 2015 anh T làm thủ tục xuất cảnh lao động tại Ba Lan được một thời gian ngắn thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung và đã lâu hai người không quan tâm gì đến nhau kể cả vật chất lẫn tinh thần. Nay cả anh T và chị Ng đều thừa nhận, tình cảm vợ chồng không còn; mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần căn cứ khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình giải quyết cho họ ly hôn nhau.
Về con chung: Chị Ng và anh T đều xác định, vợ chồng không có con chung, không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
Về tài sản và nợ: Anh T và chị Ng ®Òu thống nhất, không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
Về án phí: Chị Ngô Thị Kiều Ng phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 2 Điều 207; Khoản 1 điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 53, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Ngô Thị Kiều Ng và anh Trần Anh T.
2. Về con chung: Anh Trần Anh T và chị Ngô Thị Kiều Ng đều xác định, vợ chồng không có con chung, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
3. Về tài sản và nợ chung: Anh Trần Anh T và chị Ngô Thị Kiều Ng đều thống nhất không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
4. Về án phí: Chị Ngô Thị Kiều Ng phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai số 0000858 ngày 28/8/2018.
5. Về quyền kháng cáo:
5.1. Chị Ngô Thị Kiều Ng có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
5.2. Anh Trần Anh T đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được hoặc được tống đạt hợp lệ bản sao bản án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Cục THADS tỉnh Nghệ An; - UBND phường V, Tp. V, tỉnh NA. - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Phấn |