vanban.org

Bản án 94/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

p dụng: - Các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 244 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản L và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại Cổ phần H Việt Nam đối với ông Ngô Minh L. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? p dụng: - Các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 244 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
T A N NH N D N
HUY N CH MỚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

T NH AN G ANG
Bản án số: 94/2018/DS-ST
Ngày: 18/9/ 2018
V/v tranh chấp “H p đ ng tín
dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H A XÃ HỘ CHỦ NGHĨA V T NAM

T A N NH N D N HUY N CH MỚ , T NH AN G ANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Thư.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Lâm Sơn.

2. Ông Phan Tấn Tài.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân huy n Ch M i, t nh An Giang tham gia phiên toà: Ông Tôn Văn Xuyên - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ L số: 207/2018/TLST-DS ngày 14 tháng 5 năm 2018 về tranh chấp “H p đ ng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2018/QĐXXST-DS, ngày 09 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần H Việt Nam. Trụ sở: Số 54A, T, phường L, quận Đ, thành phố Hà Hội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Bửu Q – Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Q: Ông Lê Quang V – Chức vụ: Tổng Giám đốc Ngân hàng Cộng đồng thuộc Ngân hàng Thương mại Cổ phần H Việt Nam (Văn bản ủy quyền số 1313/2018/GUQ-TGĐ6 ngày 13/4/2018).

Người đại diện theo ủy quyền lại của ông V: Ông Trần Văn Trung C, sinh năm 1982 - Chức vụ: Chuyên viên Quản L nợ - Phòng Cảnh báo và Quản L nợ - Ngân hàng Thương mại Cổ phần H Việt Nam. Địa chỉ liên hệ: Số 248, đường Đ, phường X, thành phố L, tỉnh An Giang (Văn bản ủy quyền số 2111/2018/ GUQ-TGĐ.6 ngày 05/6/2018), (Có mặt).

- Bị đơn: Ông Ngô Minh L, sinh năm 1988.

Cư trú: p T, xã Đ, huyện C, tỉnh An Giang (Vắng mặt).

NỘ DUNG VỤ N:

Trong đơn khởi kiện và tờ tự khai của nguyên đơn do ông Trần Văn Trung C là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Vào ngày 30/6/2015 ông Ngô Minh L có ký hợp đồng tín dụng số 354548 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Mê Kông. Nay Ngân hàng Thương mại Cổ phần Mê Kông đã sáp nhập vào Ngân hàng Thương mại Cổ phần H Việt Nam (gọi tắt là Ngân hàng) vay số tiền 90.000.000 (chín mươi triệu) đồng, lãi suất trong hạn 1.28%/tháng, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn, mục đích vay tiêu dùng cá nhân, thời hạn vay là 60 tháng, với hình thức tín chấp. Cùng ngày ký kết hợp đồng thì Ngân hàng đã giải ngân cho ông L đủ số tiền nói trên. Trong quá trình thực hiện hợp đồng thì ông L có đóng lãi và trả vốn gốc tổng cộng được 21.363.000 đồng thì ngưng cho đến nay. Mặc dù Ngân hàng có nhắc nhở ông L nhiều lần nhưng ông vẫn không thực hiện và số nợ này nay đã quá hạn. Nay Ngân hàng yêu cầu ông Ngô Minh L có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền vốn vay còn nợ 68.636.127 đồng, lãi trong hạn là 906.650 đồng, lãi suất quá hạn 20.371.955 đồng, lãi chậm thanh toán 2.457.380 đồng (tính đến ngày 13/6/2018) và tiền lãi phát sinh trên vốn gốc 68.636.127 đồng từ ngày 14/6/2018 theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán hết nợ.

Đối với hợp đồng liên kết giữa Ngân hàng với Trung tâm dạy nghề và Giáo dục thường xuyên huyện Thoại Sơn ký kết trên cơ sơ phía bên Trung tâm dạy nghề và Giáo dục thường xuyên huyện Thoại Sơn có trách nhiệm đôn đốc, nhắc nhở cán bộ, công nhân viên thuộc Cơ quan, tổ chức mình quản L có trách nhiệm trả nợ đúng theo thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng và Thông báo cho phía Ngân hàng biết khi có cán bộ, công nhân viên chức nghỉ việc hay điều động công tác để Ngân hàng biết để thu hồi nợ đối với những người đã vay vốn tại Ngân hàng nên Trung tâm dạy nghề và Giáo dục thường xuyên huyện Thoại Sơn không có trách nhiệm liên quan trong vụ kiện này và Ngân hàng không yêu cầu Tòa án đưa Trung tâm dạy nghề và Giáo dục thường xuyên huyện Thoại Sơn vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Tại phiên tòa hôm nay ông Chánh đại diện Ngân hàng xác định ông Ngô Minh L có đóng lãi và trả vốn gốc đến ngày 25/01/2017 tổng cộng 23.915.610 đồng thì ngưng cho đến nay. Nay Ngân hàng yêu cầu ông Ngô Minh L trả vốn gốc còn nợ 68.636.127 đồng, lãi suất quá hạn 24.574.517 đồng (tính đến ngày 18/9/2018), lãi chậm thanh toán 3.616.826 đồng (tính đến ngày 18/9/2018). Tổng cộng vốn và lãi là 96.827.470 đồng. Đồng thời Ngân hàng yêu cầu ông Ngô Minh L phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 19/9/2018 theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 354548 ngày 30/6/2015 cho đến khi ông Ngô Minh L thanh toán xong các khoản nợ với Ngân hàng. Ông Chánh xác định do mục đích ông Ngô Minh L vay tiền của Ngân hàng là để tiêu dùng cá nhân nên Ngân hàng không yêu cầu vợ ông Ngô Minh L cùng có trách nhiệm liên đới trả nợ cho Ngân hàng.

Bị đơn ông Ngô Minh L được Tòa án tống đạt thông báo thụ L vụ án và triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vắng mặt không L do nên không ghi nhận được ý kiến và hòa giải được.

Đại diện viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng. Về ý kiến giải quyết: Ngày 30/6/2015, ông Ngô Minh L ký hợp đồng tín dụng số 354548 vay Ngân hàng thương mại Cổ phần phát triển Mê Kông với số tiền 90.000.000 đồng, thời hạn vay 60 tháng kể từ ngày nhận khoản vay đầu tiên, lãi suất 1,28%/tháng, mục đích vay tiêu dùng cá nhân. Sau khi vay, ông L trả vốn với số tiền 21.363.000 đồng và đóng lãi đến ngày 28/02/2017 thì ngưng đến nay. Nay, Ngân hàng yêu cầu ông L trả tổng số tiền 96.827.470 đồng (nợ gốc 68.636.127 đồng, lãi suất quá hạn 24.574.517 đồng, lãi chậm thanh toán 3.616.826 đồng) tính đến ngày 18/9/2018 và tiền lãi phát sinh trên vốn gốc 68.636.127 đồng từ ngày 19/9/2018 theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán hết nợ.

Xét thấy, hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Mê Kông và ông Ngô Minh L được xác lập dựa trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật. Do ông L vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng, nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông L trả số tiền trên và tiền lãi phát sinh trên vốn gốc từ ngày 19/9/2018 theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán hết nợ là có căn cứ.

Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015, xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA T A N:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Ngân hàng thương mại Cổ phần H Việt Nam khởi kiện ông Ngô Minh L. Bị đơn ông L có nơi cư trú tại ấp Mỹ Thạnh, xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ L giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Bị đơn ông Ngô Minh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng ông vắng mặt không L do. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông L là có căn cứ.

[3] Tại phiên tòa hôm nay ông Chánh đại diện Ngân hàng yêu cầu ông Ngô Minh L trả vốn gốc còn nợ 68.636.127 đồng, lãi suất quá hạn 24.574.517 đồng (tính đến ngày 18/9/2018), lãi chậm thanh toán 3.616.826 đồng (tính đến ngày 18/9/2018), tổng cộng vốn và lãi là 96.827.470 đồng. Đồng thời Ngân hàng yêu cầu ông Ngô Minh L phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 19/9/2018 theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 354548, ngày 30/6/2015 cho đến khi ông Ngô Minh L thanh toán xong các khoản nợ với Ngân hàng. Xét thấy, việc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại Cổ phần H Việt Nam không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu, căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

[4] Đối với Trung tâm dạy nghề và Giáo dục thường xuyên huyện Thoại Sơn (gọi tắt là Trung tâm), Hội đồng xét xử nhận thấy, căn cứ theo hợp đồng liên kết được ký kết giữa Ngân hàng với Trung tâm thì phía Trung tâm chỉ có nghĩa vụ nhắc nhở, đôn đốc cán bộ thuộc quyền quản L của Cơ quan mình để thực hiện nghĩa vụ với Ngân hàng và Trung tâm cũng không bão lĩnh số tiền vay của cá nhân vay tiền với Ngân hàng. Bên cạnh đó, phía Ngân hàng cũng đề nghị Tòa án không đưa Trung tâm vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Do đó, Tòa án không đưa Trung tâm dạy nghề và Giáo dục thường xuyên huyện Thoại Sơn vào tham gia tố tụng là có cơ sở.

[5] Theo hồ sơ thể hiện ông Ngô Minh L có vợ là bà Trịnh Thị Thúy An (có đăng ký kết hôn ngày 24/6/2015), số nợ của ông L phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, tuy nhiên theo hợp đồng tín dụng ký kết giữa Ngân hàng với ông Ngô Minh L thể hiện mục đích ông L vay tiền là tiêu dùng cá nhân. Quá trình làm việc và tại phiên Tòa hôm nay Ngân hàng không yêu cầu vợ ông Ngô Minh L cùng có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho Ngân hàng. Do đó, Tòa án không đưa vợ ông Ngô Minh L vào tham gia tố tụng là có cơ sở.

[6] Hội đồng xét xử xét thấy, Hợp đồng tín dụng số 354548, ngày 30/6/2015 ký kết giữa Ngân hàng với ông Ngô Minh L được xác lập trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận giữa các bên, hình thức và nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái với đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật nên đây là hợp đồng tín dụng hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Căn cứ theo hợp đồng tín dụng đã làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo quy định tại Điều 463, 466 Bộ luật dân sự 2015. Trong quá trình thực hiện hợp đồng phía ông L không thực hiện nghĩa vụ trả vốn, lãi suất đúng hạn cho Ngân hàng để phát sinh nợ quá hạn là vi phạm nghĩa vụ của người vay theo hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết. Do đó, việc Ngân hàng khởi kiện ông L yêu cầu trả vốn gốc còn nợ 68.636.127 đồng, lãi suất quá hạn 24.574.517 đồng (tính đến ngày 18/9/2018), lãi chậm thanh toán 3.616.826 đồng (tính đến ngày 18/9/2018), tổng cộng 96.827.470 đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 280, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, Điều 91 và Điều 95 Luật tổ chức tín dụng năm 2010, xét chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng.

[7] Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn có yêu cầu ông L phải tiếp tục chịu lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 354548 ngày 30/6/2015 đã ký kết từ ngày 19/9/2018 cho đến khi ông L thanh toán xong các khoản nợ với Ngân hàng. Hội đồng xét xử xét thấy, theo hợp đồng tín dụng có thỏa thuận mức lãi suất cho vay trong hạn, lãi suất nợ quá hạn và lãi suất chậm thanh toán. Do ông L vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên phải tiếp tục chịu các khoản tiền lãi theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận theo hợp đồng tín dụng cho đến khi ông L thanh toán xong khoản nợ với Ngân hàng là phù hợp với Điều 357 Bộ luật dân sự 2015.

[8] Từ những phân tích trên, có cơ sở buộc ông Ngô Minh L có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại Cổ phẩn H Việt Nam số tiền vốn và lãi (tính đến ngày 18/9/2018) tổng cộng 96.827.470 đồng và buộc ông Ngô Minh L phải tiếp tục chịu các khoản tiền lãi theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận theo hợp đồng tín dụng cho đến khi ông L thanh toán xong các khoản nợ với Ngân hàng.

[9] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên ông L phải chịu án phí dân sự theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

p dụng: - Các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 244 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Các Điều 280, Điều 357, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Các Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản L và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại Cổ phần H Việt Nam đối với ông Ngô Minh L.

+ Buộc ông Ngô Minh L có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại Cổ phần H Việt Nam số tiền vốn 68.636.127 đồng, lãi suất quá hạn 24.574.517 đồng (tính đến ngày 18/9/2018), lãi chậm thanh toán 3.616.826 đồng (tính đến ngày 18/9/2018), tổng cộng 96.827.470 đồng (Chín mươi sáu triệu, tám trăm hai mươi bảy nghìn, bốn trăm bảy mươi đồng).

+ Kể từ ngày 19/9/2018 ông Ngô Minh L còn phải tiếp tục chịu các khoản tiền lãi theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 354548 ngày 30/6/2015 cho đến khi ông L thanh toán xong các khoản nợ với Ngân hàng. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thương mại cổ phần H Việt Nam thì lãi suất mà ông Ngô Minh L phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng hàng thương mại cổ phần H Việt Nam theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng thương mại cổ phần H Việt Nam.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: 4.841.373 đồng (Bốn triệu, tám trăm bốn mươi mốt nghìn, ba trăm bảy mươi ba) đồng, ông Ngô Minh L phải chịu.

Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.919.000 đồng (Một triệu, chín trăm mười chín nghìn đồng) cho Ngân hàng thương mại Cổ phần H Việt Nam, theo biên lai thu số 0019631 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới cấp ngày 14/5/2018.

Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ