- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Tạ Văn L khởi kiện yêu cầu được ly hôn với chị Phạm Thị Thúy H"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TH XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG —————————— Bản án số: 94/2017/HNGĐ-ST Ngày 22-9-2017 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA N NH N D N TH XÃ DĨ AN, T NH B NH DƯ NG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lại Thị Ngọc Liên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Hồng Gấm;
2. Ông Nguyễn Văn Nông.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thụy - Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 530/2017/TLST-HNGĐ 05/7/2017 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 93/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 8 năm 2017, giữa các đƣơng sự:
- Nguyên đơn: Anh Tạ Văn L, sinh năm 1974; thƣờng trú: Số 251 đƣờng K, khu phố N1, phƣờng A, thị xã D, tỉnh B. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Phạm Thị Thúy H, sinh năm 1976; thƣờng trú: Số 251 đƣờg K, khu phố N1, phƣờng A, thị xã D, tỉnh B; chỗ ở hiện nay: Số 20 đƣờng số 5, khu phố Đ1, phƣờng A, thị xã D, tỉnh B. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ N:
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 27/6/2017 và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn anh Tạ Văn L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Sau thời gian tìm hiểu nhau khoảng 06 tháng, anh Tạ Văn L và chị Phạm Thị Thúy H tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2008 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng B, thành phố H, tỉnh N vào ngày 18/7/2008, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 300/2008. Sau khi kết hôn, anh L và chị H sinh sống và làm việc tại thị xã D, tỉnh B, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2011 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh L thƣờng xuyên uống rƣợu, cờ bạc không quan tâm đến vợ con, không lo kinh tế cho gia đình, từ đó vợ chồng thƣờng xuyên cãi nhau, có lần chị H tát vào mặt anh L trƣớc mọi ngƣời. Từ đó, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mạnh ai nấy sống. Anh, chị đã ly thân khoảng 06 tháng. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh L yêu cầu đƣợc ly hôn với chị H.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Tạ Khánh L, sinh ngày 09/10/2008. Hiện nay con đang sống chung với chị H. Sau khi ly hôn, anh L yêu cầu con chung sẽ do chị H trực tiếp nuôi dƣỡng, anh có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con mỗi tháng 10.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn chị Phạm Thị Thúy H đã đƣợc Toà án thông báo tham gia tố tụng, tống đạt các văn bản tố tụng nhƣng chị H không đến Toà án làm việc, không cung cấp lời khai, không có yêu cầu phản tố nào, không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Tòa án và nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn không chấp hành theo quy định tại Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định. Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
NHẬN Đ NH CỦA TÒA N:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về điều kiện thụ lý vụ án: Căn cứ vào đơn khởi kiện của anh Tạ Văn Lthì đây là vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn có địa chỉ thƣờng trú và sinh sống tại phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã D theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Về sự vắng mặt của các đƣơng sự: Ngày 21/8/2017 nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa vào các ngày 05/9/2017 và ngày 22/9/2017 nhƣng bị đơn vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Anh Tạ Văn L và chị Phạm Thị Thúy H đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng B, thành phố H, tỉnh N vào ngày 18/7/2008, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 300/2008, là hôn nhân hợp pháp. Anh L cho rằng vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh L thƣờng xuyên uống rƣợu, cờ bạc, không lo kinh tế cho gia đình, dẫn đến vợ chồng thƣờng xuyên cãi nhau, có lần chị H đã tát vào mặt anh L trƣớc sự chứng kiến của mọi ngƣời. Từ đó, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Anh, chị đã sống ly thân đƣợc khoảng 06 tháng, điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân của vợ chồng anh L, chị H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Vì vậy, anh L yêu cầu đƣợc ly hôn với chị H là có căn cứ, phù hợp với quy định của Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Về con chung: Anh L và chị H có 01 ngƣời con chung tên Tạ Khánh L, sinh ngày 09/10/2008. Hiện nay con đang sống chung với chị H. Trong suốt quá trình tố tụng chị H không có ý kiến gì về con chung, vấn đề cấp dƣỡng nuôi con. Xét thấy, hiện nay cháu L do chị H trực tiếp nuôi dƣỡng, đồng thời là con gái, cháu có nguyện vọng sống chung với mẹ. Vì vậy, anh L yêu cầu sau ly hôn con chung sẽ do chị H trực tiếp nuôi dƣỡng là phù hợp với các Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình. Anh L tự nguyện cấp dƣỡng nuôi con mỗi tháng 10.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D, tỉnh B.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Tạ Văn L phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT Đ NH:
Căn cứ khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Tạ Văn L đƣợc ly hôn với chị Phạm Thị Thúy H.
2. Về con chung: Anh Tạ Văn L giao cháu Tạ Khánh L, sinh ngày 09/10/2008 cho chị Phạm Thị Thúy H trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng. Anh Tạ Văn L có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con mỗi tháng 10.000.000 đồng (mƣời triệu đồng). Thời hạn cấp dƣỡng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Sau ly hôn, anh L và chị H đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Trƣờng hợp anh L lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hƣởng xấu đến chị H nuôi con thì chị H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh L theo quy định của pháp luật. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và việc cấp dƣỡng.
Kể từ ngày chị Phạm Thị Thúy H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Tạ Văn L không thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng thì hàng tháng anh Tạ Văn L còn phải thanh toán cho chị Phạm Thị Thúy H tiền lãi theo mức lãi suất qui định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tƣơng ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Anh Tạ Văn L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dƣỡng nuôi con, đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009783, ngày 04/7/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã D, tỉnh B. Anh Tạ Văn Lƣợng còn phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
5. Án xử công khai, tuyên án vắng mặt các đƣơng sự.
6. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh B; - VKSND thị xã Dĩ An; - Chi cục THADS thị xã D; - UBND phƣờng B, thành phố H, tỉnh N; - Đƣơng sự; - Lƣu: VP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S THẨM THẨM PH N – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lại Thị Ngọc Liên |