- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Nguyễn Trung A"
- Tòa quyết gì? Buộc ông Nguyễn Trung B thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần A số tiền là 97.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 938/2021/DS -ST Ngày 09 tháng 12 năm 2021 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thiện Liên Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lâm Thị Hoàng Oanh
2. Bà Nguyễn Thị Nhơn
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Xuân Trường, là Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Diễm - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 09 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án dân sự thụ lý số 0253/2021/TLST-DS ngày 24 tháng 02 năm 2021 về việc: “TrBh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 178/2021/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 10 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 141/2021/QĐST-DS ngày 11 tháng 11 năm 2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần A
Địa chỉ: Lầu 8, 266-268 N, Phường M, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D - Tổng giám đốc
Đại diện theo ủy quyền: Ông Lã Ngọc M (Giấy ủy quyền số 125/2021/UQ-TTT lập ngày 01 tháng 3 năm 2021)
Địa chỉ: Lầu 8, 266-268 N, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Ông Nguyễn Trung B
Sinh năm: 1977
Địa chỉ: 037 Lô G, Cư xá T, Phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai và các biên bản tại Tòa án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Lã Ngọc M trình bày:
Căn cứ trên giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 28/3/2012 của ông Nguyễn Trung B, Ngân hàng thương mại cổ phần A (sau đây gọi tắt là Ngân hàng A) đã cấp cho ông B thẻ tín dụng Visa Credit Classic số 472074-3348, hạn mức thẻ là 35.000.000 (ba mươi lăm triệu) đồng, lãi suất và phí theo quy định tại Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ của là Ngân hàng A với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất trong hạn là 2,15%/tháng, lãi suất quá hạn là 150% x 2,15% tương đương 3,225%/tháng.
Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông B đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 159.860.720 (một trăm năm mươi chín triệu, tám trăm sáu mươi ngàn, bảy trăm hai mươi) đồng. Ông B thBh toán được 132.731.141 (một trăm ba mươi hai triệu, bảy trăm ba mươi mốt ngàn, một trăm bốn mươi mốt) đồng.
Do ông B vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng A đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông B chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu là 40.678.923 (bốn mươi triệu, sáu trăm bảy mươi tám ngàn, chín trăm hai mươi ba) đồng sang nợ quá hạn từ ngày 11/5/2018. Lãi suất trong hạn là 2,15%/tháng. Lãi suất quá hạn là 150% x 2,15% tương đương 3,225%/tháng.
Nay, Ngân hàng A yêu cầu ông Nguyễn Trung B thanh toán ngay một lần tổng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 20/5/2021 là 489.044.303 (tám mươi chín triệu, không trăm bốn mươi bốn ngàn, ba trăm lẻ ba) đồng, trong đó:
- Nợ gốc là 40.678.923 (bốn mươi triệu, sáu trăm bảy mươi tám ngàn, chín trăm hai mươi ba) đồng.
- Tiền lãi quá hạn tính đến hết ngày 20/5/2021 là 48.365.380 (bốn mươi tám triệu, ba trăm sáu mươi lăm ngàn, ba trăm tám mươi) đồng.
Ông B phải thanh toán khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán kể từ ngày 21/5/2021 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc với mức lãi suất theo quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 28/3/2012 và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
Ngân hàng thương mại cổ phần A chỉ yêu cầu cá nhân ông Nguyễn Trung B thanh toán nợ, không yêu cầu đưa thêm bất cứ người nào vào tham gia vụ kiện với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Bị đơn - ông Nguyễn Trung B vắng mặt suốt quá trình tố tụng giải quyết vụ kiện mặc dù Tòa án đã thực hiện thủ tục triệu tập và niêm yết hợp lệ. Ông B cũng không gửi văn bản phản hồi đến Tòa.
Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nguyên đơn vẫn giữ các nguyên ý kiến và yêu cầu như trên. Bị đơn vắng mặt không lý do mặc dù đã được Tòa triệu tập xét xử hợp lệ và cũng không gửi văn bản ý kiến đến phiên tòa.
Tại phần tranh luận, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt không có ý kiến tranh luận.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:
1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
* Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:
Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này, thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng Dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Cụ thể:
Thẩm phán xác định đúng quan hệ tranh chấp, đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Thẩm phán đã xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự đúng quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ nên vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21; khoản 2 Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho đương sự và Viện kiểm sát thực hiện theo đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 181 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Tòa án tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đúng theo quy định tại Điều 209, 210, 211 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về án phí: Nguyên đơn nộp tiền tạm ứng án phí theo đúng quy định.
Tuy nhiên, Thẩm phán còn vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
* Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:
Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
Đối với nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay không thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
3. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí, do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự tại phiên tòa, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
QuB hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:
QuB hệ trBh chấp trong vụ án là tranh chấp dân sự về Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng. Bị đơn có địa chỉ tại quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn.
Tòa đã tống đạt xét xử hợp lệ triệu tập bị đơn tham gia phiên tòa sơ thẩm lần 1 mở ngày 11/11/2021 và lần 2 mở ngày 09/12/2021 nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
Về yêu cầu của đương sự:
Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng do bị đơn ký tên chủ thẻ chính vào ngày 28/3/2012 cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ kiện đã đủ cơ sở xác định bị đơn đã được nguyên đơn cấp thẻ tín dụng loại Visa Credit Classic số 472074-3348, hạn mức thẻ là 35.000.000 (ba mươi lăm triệu) đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất áp dụng là 2,15%/tháng.
Căn cứ Bản sao kê tài khoản thẻ thì bị đơn đã thực hiện các giao dịch từ ngày 10/5/2012 đến ngày 10/01/2018 với tổng số tiền đã sử dụng là 159.860.720 (một trăm năm mươi chín triệu, tám trăm sáu mươi ngàn, bảy trăm hai mươi) đồng. Từ ngày 10/5/2012 đến ngày 10/01/2018, bị đơn đã thanh toán được 132.731.141 (một trăm ba mươi hai triệu, bảy trăm ba mươi mốt ngàn, một trăm bốn mươi mốt) đồng. Từ ngày 11/01/2018 cho đến nay, bị đơn không thanh toán bất kỳ khoản tiền nào. Sau khi ưu tiên thanh toán các loại phí và lãi trong hạn thì số tiền còn nợ lại là 40.678.923 (bốn mươi triệu, sáu trăm bảy mươi tám ngàn, chín trăm hai mươi ba) đồng chuyển nợ quá hạn từ ngày 11/5/2018. Lãi suất quá hạn là 150% x 2,15% tương đương 3,225%/tháng.
Như vậy, tính đến ngày 09/12/2021, bị đơn còn nợ nguyên đơn do việc sử dụng thẻ tín dụng nêu trên với tổng số tiền là 97.921.493 (chín mươi bảy triệu, chín trăm hai mươi mốt ngàn, bốn trăm chín mươi ba) đồng, trong đó:
- Nợ gốc là 40.678.923 (bốn mươi triệu, sáu trăm bảy mươi tám ngàn, chín trăm hai mươi ba) đồng.
- Tiền lãi quá hạn tính đến hết ngày 09/12/2021 là 57.242.570 (năm mươi bảy triệu, hai trăm bốn mươi hai ngàn, năm trăm bảy mươi) đồng.
Mặc dù nguyên đơn đã nhiều lần nhắc nhở, tạo điều kiện cho bị đơn trả nợ nhưng từ ngày 11/01/2018 cho đến nay, bị đơn không thanh toán cho nguyên đơn bất kỳ khoản tiền nào đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn trong một thời gian dài. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thBh toán số tiền gốc và tiền lãi còn nợ là phù hợp với quy định Điều 2 Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng; Điều 471, Điều 474 Bộ luật dân sự năm 2005; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; khoản 1 Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất th a thuận; khoản 2 Điều 11 Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng được bB hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước được sửa đổi, bổ sung bằng Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03-2-2005; Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Về phía bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia quá trình tố tụng giải quyết vụ án nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình toà án tiến hành điều tra, thu thập chứng cứ và xét xử. Cho thấy, bị đơn đã tự từ b quyền lợi tố tụng của mình.
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thiết nghĩ yêu cầu của nguyên đơn hoàn toàn có cơ sở để chấp nhận toàn bộ, cần buộc bị đơn phải thanh toán số tiền 97.921.493 (chín mươi bảy triệu, chín trăm hai mươi mốt ngàn, bốn trăm chín mươi ba) đồng cho nguyên đơn ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật; bị đơn còn phải tiếp tục trả lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thBh toán với mức lãi suất theo quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 28/3/2012 và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng theo như ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tại phiên tòa.
Về án phí:
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy bB Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, án phí dân sự sơ thẩm là 4.896.075 (bốn triệu, tám trăm chín mươi sáu ngàn, không trăm bảy mươi lăm) đồng, bị đơn phải chịu do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ.
Nguyên đơn được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.427.000 (một triệu, bốn trăm hai mươi bảy ngàn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0021164 ngày 26/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 471 và Điều 474 Bộ luật dân sự 2005;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ vào Luật phí và lệ phí;
Căn cứ vào Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy bB Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Buộc ông Nguyễn Trung B thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần A số tiền là 97.921.493 (chín mươi bảy triệu, chín trăm hai mươi mốt ngàn, bốn trăm chín mươi ba) đồng, trong đó:
- Nợ gốc là 40.678.923 (bốn mươi triệu, sáu trăm bảy mươi tám ngàn, chín trăm hai mươi ba) đồng.
- Tiền lãi quá hạn tính đến hết ngày 09/12/2021 là 57.242.570 (năm mươi bảy triệu, hai trăm bốn mươi hai ngàn, năm trăm bảy mươi) đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Nguyễn Trung B còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc với mức lãi suất theo quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 28/3/2012 và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
Thi hành ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 4.896.075 (bốn triệu, tám trăm chín mươi sáu ngàn, không trăm bảy mươi lăm) đồng, ông Nguyễn Trung B phải nộp.
Hoàn lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần A số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.427.000 (một triệu, bốn trăm hai mươi bảy ngàn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0021164 ngày 26/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Án xử công khai. Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ bản án.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - TBD TP.Hồ Chí Minh; - VKSND quận Y; - Chi Cục THADS quận Y; - Các đương sự; - Lưu VP; Hồ sơ HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thiện Liên Hương HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |