vanban.org

Bản án 937/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Cao Thị Quế H được ly hôn với ông Nguyễn Văn H1.

2/ Về con chung: 01 trẻ tên Nguyễn Cao Quế T, sinh ngày 04/01/2015, giao trẻ T cho ông H1 trực tiếp nuôi dưỡng, tạm ngừng tiền cấp dưỡng nuôi con đối với bà H cho đến khi có yêu cầu của ông H1. Vì lợi ích con chung, bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "CAO THỊ QUẾ H - NGUYỄN VĂN H1"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Cao Thị Quế H được ly hôn với ông Nguyễn Văn H1.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 937/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 04/9/2018
V/v : “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Phụng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Chính

2. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hà Kim Thông - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hiếu – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 126/2018/TLST–HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2018 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 173/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/7/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 163/2018/QĐST- HNGĐ ngày 06/8/2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Cao Thị Quế H - sinh năm 1996 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H1 - sinh năm 1994 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp 1, xã T, huyện H, TP. Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 17/01/2018, bản tự khai ngày 22/03/2018 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Cao Thị Quế H trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn H1 tổ chức đám cưới vào năm 2014, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H vào năm 2014.

Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống tại ấp 1, xã T, huyện H, TP. Hồ Chí Minh. Đầu năm 2017 vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do ông H1 cờ bạc, thường xuyên uống rượu, bia; không lo cho kinh tế gia đình. Bà và ông H1 đã sống ly thân từ tháng 8/2017 đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc hôn nhân của bà chỉ còn là hình thức nên bà có nguyện vọng được ly hôn với ông Nguyễn Văn H1.

- Về con chung: có 01 trẻ tên Nguyễn Cao Quế T, sinh ngày 04/01/2015. Bà H yêu cầu nuôi dưỡng trẻ T, không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: không có.

- Nợ chung: không có.

Toà án đã tống đạt thông báo thụ lý, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: vì đây là tranh chấp ly hôn và bị đơn cư ngụ tại huyện H nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H, thành phố Hồ Chí Minh theo các qui định tại khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông H1 tự nguyện tiến đến hôn nhân. Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 215 ngày 19/11/2014 do Ủy ban nhân xã T, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh cấp thì đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông H1 là hôn nhân hợp pháp.

Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông H1. Bà H khai, mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ đầu năm 2017. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông H1 cờ bạc, thường xuyên uống bia rượu không lo kinh tế gia đình, vợ chồng bà đã ly thân từ tháng 8/2017 cho đến nay.

Hội đồng xét thấy, từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập và thông báo về phiên hòa giải để vợ chồng trở về đoàn tụ với nhau nhưng ông H1 vẫn cố tình tránh né không đến tòa án, không trình bày ý kiến, yêu cầu của mình. Điều này chứng tỏ ông H1 không có thiện chí để vợ chồng đoàn tụ, hàn gắn trở về sống chung với nhau. Mặt khác, vợ chồng bà H, ông H1 đã không còn chung sống với nhau từ tháng 8/2017 đến nay, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, mạnh ai nấy sống, đến nay cả hai bên không có phương pháp hay thiện chí hàn gắn. Hội đồng nhận thấy đời sống chung của vợ chồng của bà H, ông H1 đang ở trong tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên không thể kéo dài. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H.

-Về con chung: 01 trẻ tên Nguyễn Cao Quế T, sinh ngày 04/01/2015.

Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà H yêu cầu giao trẻ T cho ông H1 trực tiếp nuôi dưỡng vì hiện nay trẻ T đang sinh sống cùng với ông H1, bà xin tạm ngừng tiền cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét thấy, để tránh bị xáo trộn về tâm lý của trẻ nên yêu cầu của bà H là có căn cứ.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H phát biểu quan điểm về phần thủ tục tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Xét đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng bà H phải nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Cao Thị Quế H được ly hôn với ông Nguyễn Văn H1.

2/ Về con chung: 01 trẻ tên Nguyễn Cao Quế T, sinh ngày 04/01/2015, giao trẻ T cho ông H1 trực tiếp nuôi dưỡng, tạm ngừng tiền cấp dưỡng nuôi con đối với bà H cho đến khi có yêu cầu của ông H1.

Vì lợi ích con chung, bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này. Khi cần thiết, theo yêu cầu của một hoặc hai bên Toà án sẽ giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

3/ Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

3/ Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Bà Cao Thị Quế H phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng và được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng mà bà H đã nộp theo biên lai số 0017855 ngày 30 tháng 01 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà H đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ