vanban.org

Bản án 936/2023/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 13/12/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/12/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của ông Đỗ Ngọc C - đại diện của bị cáo Đỗ Quốc T và ông Nguyễn Văn H1 - đại diện của bị hại Nguyễn Thanh V.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2023/HS-ST ngày 07/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ về hình phạt đối với của bị cáo Đỗ Quốc T, cụ thể như sau: Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Quốc T phạm tội “Giết người”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Quốc T phạm tội “Giết người” - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của ông Đỗ Ngọc C - đại diện của bị cáo Đỗ Quốc T và ông Nguyễn Văn H1 - đại diện của bị hại Nguyễn Thanh V.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 91 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 936/2023/HS-PT
Ngày 13 tháng 12 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Hải Hiệp

Các Thẩm phán:

Ông Điều Văn Hằng

Bà Đặng Thị Thơm

- Thư ký phiên toà: Bà Đào Thanh Huyền, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đức Thắng, Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 13 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân cấp cao tại Hà Nội, Tòa án nhân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 877/2023/TLPT-HS ngày 18 tháng 8 năm 2023, đối với bị cáo Đỗ Quốc T bị xét xử sơ thẩm về tội “Giết người”, do có kháng cáo của đại diện của bị cáo và đại diện của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2023/HSST ngày 07 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

* Bị cáo bị kháng cáo:

Đỗ Quốc T, sinh ngày 19/7/2005; nơi sinh: huyện P, tỉnh Phú Thọ; HKTT: Khu D, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Công giáo; Dân tộc: Kinh; Học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Đỗ Ngọc C, sinh năm 1983 và bà Mè Thị K, sinh năm 1987; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.

Đại diện hợp pháp cho bị cáo T có kháng cáo: Ông Đỗ Ngọc C, sinh năm 1983; Địa chỉ: Khu D, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.

Luật sư bào chữa cho bị cáo T: Ông Nhâm Mạnh H - Luật sư thuộc Công ty L1, Đoàn luật sư thành phố H; Địa chỉ: Số nhà C, ngách E ngõ C T, phường D, quận C, thành phố Hà Nội. Có mặt.

* Bị hại: Cháu Nguyễn Thanh V, sinh ngày 20/12/2009. Vắng mặt.

Đại diện hợp pháp của người bị hại có kháng cáo: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1965; Địa chỉ: khu H, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Mè Thị K, sinh năm 1987; Địa chỉ: Khu D, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.

2. Cháu Lê Quốc Đ, sinh năm 2008; Địa chỉ: khu B, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của cháu Đ: Anh Nguyễn Anh T1; Địa chỉ: khu H, xã G, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.

3. Cháu Đỗ Ngọc D, sinh ngày 01/6/2007; Địa chỉ: khu D, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của cháu D: Ông Đỗ Ngọc B; Địa chỉ: khu D, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.

* Người làm chứng:

1. Cháu Tạ Trung K1, sinh năm 2006; Địa chỉ: khu D, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của cháu K1: Ông Tạ Mạnh T2; Địa chỉ: khu D, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.

2. Cháu Hoàng Công M, sinh năm 2006; Địa chỉ: khu C, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.

Người đại diện hợp pháp của cháu M: Bà Hán Thị Ư; Địa chỉ: khu C, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.

3. Cháu Nguyễn Quốc V1, sinh năm 2007; Địa chỉ: khu H, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.

Người đại diện hợp pháp của cháu V1: Ông Nguyễn Văn H2; Địa chỉ: khu H, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.

4. Chị Nguyễn Thị Ngọc L, sinh ngày 02/01/2005; Địa chỉ: Khu D, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Ngọc D, sinh ngày 01/6/2007, trú tại khu D, xã L, huyện P và Lê Quốc Đ, sinh năm 2008, trú tại khu B, xã L, huyện P mâu thuẫn với nhau trên mạng xã hội Facebook nên cả hai nhắn tin qua ứng dụng Messenger hẹn tối ngày 03/8/2022 gặp nhau tại nhà thờ L2 thuộc khu D, xã L, huyện P để nói chuyện, giải quyết mâu thuẫn. D nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho bạn là Tạ Mạnh H3, sinh năm 2006, trú tại khu D, xã L, huyện P và Đỗ Tuấn A, sinh năm 2006, trú tại khu E, xã L, huyện P rủ ra nhà thờ L2 để nói chuyện với Đ nhưng Tuấn A nói bận không đi được. Buổi chiều ngày 03/8/2022, D gặp Đỗ Quốc T, sinh ngày 19/7/2005 là con nhà bác ruột D ở cùng khu, D bảo T “Tối nay ra nhà thờ L2 gặp nói chuyện với thằng Đ nếu xảy ra đánh nhau thì anh đánh hộ em”, T đồng ý. D hỏi T “Anh có đồ gì không, nếu tối không đánh được thì mang ra”. T trả lời “Ở nhà tao có sẵn một đoạn sắt dài, nhà mày có máy cắt không để mang sang cắt làm đôi, nếu chúng nó bật lại thì dùng đánh nhau”. D nói “Nhà em có”. Sau đó, T về nhà lấy đoạn ống kim loại hình trụ (ống tuýp), rỗng, đường kính 02cm, dài khoảng 02m mang sang nhà D, D dùng máy cắt kim loại của bố là Đỗ Ngọc B, sinh năm 1985, trú tại khu D, xã L, huyện P cắt đoạn ống thành 02 đoạn, mỗi đoạn dài khoảng 01m, vị trí vết cắt sắc, gọn, vuông góc với ống sắt. T mang 02 đoạn ống tuýp này về để ở ven tường rào gần nhà T. Cũng trong buổi chiều cùng ngày, D nói với Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 2005, trú tại khu D, xã L, huyện P về việc mâu thuẫn, hẹn đánh nhau với Đ vào tối 03/8/2022. L quen biết với Đ nên nói với D tối L sẽ đi cùng D để giảng hòa với Đ, không đánh nhau. Khoảng 20 giờ ngày 03/8/2022, D đi bộ sang nhà T, T lấy 02 đoạn ống tuýp rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 19P1-292.73 của mẹ là bà Mè Thị K, sinh năm 1987 chở D đến nhà bà ngoại D để lấy xe mô tô đi đón L, sau đó T điều khiển xe mô tô trên mang theo 02 ống tuýp đến nhà thờ L2 trước. T dừng xe ở sân nhà thờ, dựng 02 ống tuýp vào sườn xe chờ D. Lúc này, Nguyễn Tiến Q, sinh năm 2007 trú tại khu C, xã L, huyện P; T, Tạ Trung K1, sinh năm 2006 trú tại khu D, xã L, huyện P; Đỗ Văn T3, sinh năm 2005; Nguyễn Ngọc H4, sinh năm 2006; Nguyễn Ngọc Minh C1, sinh năm 2008 đều trú tại khu E, xã L, huyện P đi sinh hoạt giới trẻ tại nhà thờ L2 (một hình thức sinh hoạt văn hóa của trẻ em theo đạo Công giáo) thấy T có 02 đoạn ống tuýp, Q nhấc lên nghịch, sau đó trả về vị trí cũ. Khoảng 03 phút sau, D chở L đến sân nhà thờ, thấy ống tuýp, L bảo D không được đánh nhau, đợi Đ đến để giảng hòa, thấy vậy D nói với T “Cất đi (cất ống tuýp) nếu đánh thì chỉ vào can thôi”, T cầm 02 đoạn ống tuýp để vào gốc hàng hoa tại bồn hoa phía trước tượng Đ1 mẹ M1 trong khuôn viên nhà thờ rồi cùng mọi người ngồi chờ Đ.

Đối với Lê Quốc Đ, sau khi hẹn đánh nhau với D thì Đ nhắn tin qua ứng dụng Messenger rủ Hà Xuân T4, sinh năm 2005, trú tại khu A, xã P; hai anh em Vũ Huy H5, sinh năm 2006 và Vũ Hoàng G, sinh năm 2008 đều ở khu H, xã P; Nguyễn Thanh V, sinh năm 2009 trú tại khu H, xã L, huyện P; Hoàng Công M, sinh năm 2006 trú tại khu C, xã T, huyện P đi cùng Đ để gặp D. Khoảng 20 giờ 30 cùng ngày Đ, V, T4, H5, G, M; Đoàn Mạnh C2, sinh năm 2006 trú tại khu H, xã P, huyện P; Phùng Anh D1, sinh năm 2007 trú tại khu A, xã P, huyện P cùng đến nhà thờ L2. Khi đến nơi thì T4, H5, Gia bỏ về trước. Tại sân nhà thờ L2 ngoài những người ở nhóm của D và nhóm của Đ thì còn nhiều thanh thiếu niên sau khi sinh hoạt giới trẻ tại Nhà thờ biết sắp có đánh nhau nên ở lại xem hoặc là bạn của những người trong nhóm của D và Đ biết có đánh nhau nên đến đứng quanh sân Nhà thờ để xem, trong đó có Nguyễn Quốc V1, sinh năm 2007 trú tại khu H, xã T, huyện P là người quen biết chơi cùng Nguyễn Thanh V, khi V1 gặp V biết sắp có đánh nhau thì đi cùng V trong nhóm của Đ.

Khoảng 20 giờ 30 cùng ngày, D, Đ gặp nhau, đứng nói chuyện với nhau tại cổng và sân dưới nhà thờ L2, L đi theo giảng hòa. D và Đ lúc này chỉ nói chuyện, thách thức nhau. Khoảng 10 phút sau, khi D và Đ đi lên vị trí ở sân trên trước cửa nhà thờ thì có người khích Đ “Mày mở bát trước đi”, Đ liền dùng tay phải đấm D, D dùng tay phải đấm lại Đ, Minh l đến đấm D, L đứng giữa đẩy M ra phía sau, T chạy từ giữa sân đến kéo M ra. Sau khi được can ngăn, D chạy ra đứng ở vị trí góc sân, khoảng 01 phút sau V chạy đến vị trí D đứng, dùng tay đấm D. Lúc này ngoài D và V thì còn khoảng 02 - 03 người lao về phía D nhưng do trời tối sự việc xảy ra nhanh nên những người có mặt tại hiện trường không xác định được là ai tham gia đánh nhau hay can ngăn. Nhìn thấy D đang đánh nhau, T chạy đến du đẩy những người đang đánh nhau với D ra thì T bị đấm lại bằng tay, bực tức T chạy đi lấy ống tuýp. Thời điểm này khoảng 20 giờ 40 phút, khi T chạy về vị trí để 02 đoạn ống tuýp thì V chạy đuổi theo sau T. V1 thấy V chạy theo phía T, V1 biết T chạy đi lấy ống tuýp nên hô lên với V “Nó dấu gậy đấy” nhưng không thấy V dừng lại nên V1 chạy lên trước phía V đến vị trí T đang cúi xuống nhặt đoạn ống tuýp. V1 dùng tay phải đấm xượt phía sau lưng T xong chạy ngay ra gần phía cổng phụ bên trái (theo hướng cổng chính nhìn vào) nhà thờ L2. Ngay khi V1 chạy đi thì V chạy đến, T cũng vừa nhặt đoạn ống tuýp dài 73cm lên cầm bằng tay phải đứng xoay người sang bên phải quay lại phía sau nên T đứng phía sau V, vụt cái thứ nhất trúng vào vùng đỉnh chẩm sau đầu V, V quay lại đứng đối diện T thì T vụt ống tuýp liên tiếp thêm 02 nhát theo hướng từ trên xuống dưới về phía đầu V, trong đó có 01 nhát trúng vào trán bên trái làm gãy xương thành xoang trán trái, gãy xương ổ mắt bên trái V. Bị đánh trúng, V ôm hai tay lên đầu chạy cách vị trí bị T đánh khoảng 05m thì ngã xuống nền sân xi măng, co giật gây nên các vết thương xây sát da vùng hàm mặt, 02 đầu gối. Khi V ngã xuống, T cầm ống tuýp chỉ về phía nhóm bạn của Đ nói to “Còn thằng nào đánh em tao nữa”. L, D, D1, H4 chạy về phía V đang nằm co giật, những người khác đi khỏi hiện trường. T cầm theo ống tuýp vừa đánh V điều khiển xe mô tô đi về, trên đường đi T ném ống tuýp ở ven đường. Do sợ bố mẹ phát hiện sự việc đánh nhau, T không dám vào nhà mà để xe ở đồi chè gần nhà rồi ngủ ở chuồng lợn để không của gia đình. Đỗ Ngọc D sau khi về nhà thì nhắn tin cho Tạ Trung K1, nội dung “Xem còn gì ở đấy không thì vứt đi”, K1 đồng ý, nhà K1 ở gần nhà thờ L2 nên K1 đến hiện trường nhặt được 01 ống tuýp bằng kim loại có đặc điểm hình trụ tròn, rỗng dài 75cm, đường kính 02cm để ở bồn hoa mang về nhà. Nguyễn Thanh V được đưa đi cấp cứu, điều trị tại Trung tâm y tế huyện P, Bệnh viện đa khoa tỉnh P từ ngày 03/8/2022 đến ngày 13/8/2022 thì xuất viện. Đêm ngày 03/8 rạng sáng ngày 04/8/2022, bố đẻ Nguyễn Thanh V là Nguyễn Văn H1, sinh năm 1965, trú tại khu H, xã L, huyện P trình báo nội dung sự việc. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện P tiếp nhận nội dung trình báo, phối hợp cùng các cơ quan chức năng khám nghiệm hiện trường, xác minh, làm rõ vụ việc.

Sáng ngày 04/8/2022, Trung thức dậy, vào nhà kể cho bố mẹ nghe việc đã gây thương tích cho Nguyễn Thanh V, bố mẹ T đã đưa T đến Công an xã L để khai báo nội dung vụ việc. Chiếc ống tuýp bằng kim loại có đặc điểm hình trụ tròn, rỗng dài 73cm, đường kính 02cm, bị cong, một đầu của đoạn ống có cạnh sắc, T sử dụng đánh Nguyễn Thanh V, T đã nhặt giao nộp lại cho Công an huyện P cùng ngày 04/8/2022. Cùng ngày 04/8/2022 và ngày 11/8/2022, các cá nhân sau đã đến giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện P các đồ vật, tài liệu sau: Tạ Trung K1 giao nộp 01 ống tuýp bằng kim loại; Lê Quốc Đ giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi8, số Imei l: 866026048845208, số Imei 2: 866026048845216, không lắp thẻ sim, kiểm tra điện thoại phát hiện nội dung tin nhắn thách thức đánh nhau qua ứng dụng Messenger giữa tài khoản của Lê Quốc Đ và Đỗ Ngọc D, tin nhắn của Lê Quốc Đ rủ Hoàng Công M tham gia đánh nhau với Đỗ Ngọc D; Đỗ Ngọc D giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus số seri C38QQ24LGRX5, gắn sim thuê bao 0334005864, toàn bộ nội dung tin nhắn D đã xóa trước khi giao nộp điện thoại cho CQĐT, 01 thiết bị dạng máy cắt kim loại, vỏ ngoài màu đỏ đen, không rõ nhãn hiệu, chủng loại; Ông Nguyễn Văn H1 giao nộp cho CQĐT 01 điện thoại của Nguyễn Thanh V nhãn hiệu Iphone 6S vỏ màu xám, số Imei 3549570731900921, màn hình nứt vỡ, khó thao tác cảm ứng, điện thoại không gắn thẻ sim, qua kiểm tra toàn bộ dữ liệu tin nhắn, cuộc gọi trên điện thoại đã bị xóa.

Kết quả xem xét dấu vên trên thẩn thể đối với Đỗ Quốc T, Đỗ Ngọc D, Lê Quốc Đ, Hoàng Công M không phát diện dấu vết tổn thương nào. Đối với Nguyễn Quốc V1 qua kiểm tra phát hiện dấu vết tại vị trí mu bàn tay phải có vết sẹo thâm, kích thước 1,5 x 02cm, theo Nguyễn Quốc V1 trình bày đây là vết thương do khi ở bồn hoa tượng Đ1 mẹ M1, V1 đấm xượt qua lưng T thì đấm trúng một vật cứng quanh khu vực bồn hoa gây nên.

Xác minh thương tích của Nguyễn Thanh V tại Trung tâm y tế huyện P: Cung mày trái có vết thương dài 05cm, vỡ xương trán thông vào xoang trán, nhiều khối sưng vùng đầu, đường kính khoảng 03cm, chảy máu liềm đại não, đụng dập nhu mô thùy trán trái, vỡ lún xương trái, tụ máu dưới da vùng đỉnh chẩm phải.

Xác minh thương tích của Nguyễn Thanh V tại Bệnh viện đa khoa tỉnh P: Vết thương phức tạp vùng trán, sưng nề đỉnh chẩm, xây sát hàm mặt, tụ máu dưới màng cứng vị trí trán trái, đường gãy xương thành xoang trán trái, trần ổ mắt bên trái.

Ngày 05/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện P ra quyết định trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh P giám định tỷ lệ phần trăm thương tích, tổn thương cơ thể, cơ chế hình thành thương tích đối với Nguyễn Thanh V. Tại Kết luận giám định số 160/TgT/2022 ngày 10/8/2022, Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể vết thương phức tạp vùng trán trái 19% (mười chín phần trăm); tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể vết sưng nề bầm tím da vùng đỉnh chẩm theo thông tư số 22/2019/TT - BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định không có mục xếp tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể; Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể vết xây sát vùng hàm mặt, hai chân: 16% (mười sáu phần trăm). Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thanh V là 32% (ba mươi hai phần trăm).

Cơ chế hình thành thương tích: Vết thương trán bên trái, gãy xương thành xoang trán trái, gãy xương ổ mắt bên trái, tụ máu ngoài màng cứng: Do tác động của vật cứng có gờ cạnh sắc gây nên; vết thương xây sát hàm mặt, hai chân: do tác động của vật cứng gây nên; sưng nề bầm tím da vùng đỉnh chẩm: do tác động của vật cứng gây nên”.

Ngày 21/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện P đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Đỗ Quốc T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự, xong xét thấy hành vi phạm tội của Đỗ Quốc T có dấu hiệu của tội “Giết người” nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh đã ra quyết định chuyển vụ án hình sự đến Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh P để tiếp tục điều tra theo thẩm quyền.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh P đã tiến hành thực nghiệm điều tra vụ án, thu giữ mẫu tóc của Nguyễn Thanh V, ra quyết định trưng cầu Viện khoa học hình sự - Bộ C4 giám định AND đối với 02 đoạn ống tuýp kim loại thu giữ của Đỗ Quốc T (đoạn ống ký hiệu M1) và Tạ Trung K1 (đoạn ống ký hiệu M2), trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh P giám định bổ sung thương tích, tổn thương cơ thể đối với Nguyễn Thanh V cùng các hoạt động điều tra khác.

Tại Kết luận giám định số 1004/KL - KTHS ngày 17/3/2023, V2 - Bộ C4 kết luận: “1. Không phát hiện thấy dấu vết máu người trên đoạn ống kim loại ký hiệu M1; 2. Trên đoạn ống kim loại ký hiệu M2 có dính máu người và là máu của Nguyễn Thanh V.”

Tại Kết luận giám định pháp y bổ sung về thương tích số 33/TgT/2023 ngày 24/02/2023, Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận: “Sau giám định bổ sung còn ở tổn thương nhu mô não thùy trán trái đường kính 1,25cm: 21%; tại thời điểm giám định bổ sung sưng nề bầm tím vùng đỉnh chẩm, mi mắt bên trái nay không để lại tổn thương gì nên Trung tâm pháp y không có căn cứ xếp tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của cháu Nguyễn Thanh V tại Bản kết luận giám định pháp y số 160/TgT/2022 ngày 10/8/2022: 32%. Áp dụng phương pháp cộng tại thông tư 46,28%. Làm tròn: 46%. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của cháu Nguyễn Thanh V sau khi giám định bổ sung là: 46%.

Cơ chế hình thành ổ tổn thương nhu mô não thùy trán trái: Do tác động của vật cứng có gờ cạnh sắc gây nên. Tại thời điểm giám định sưng nề bầm tím vùng đỉnh chẩm, mi mắt bên trái nay không để lại tổn thương gì nên Trung tâm pháp y không có căn cứ xác định cơ chế gây chấn thương.”

Ngày 18/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh P yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P định giá đối với thiệt hại về tài sản là chiếc điện thoại của Nguyễn Thanh V. Tại Kết luận định giá tài sản số 30 ngày 26/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận, thiệt hại về tài sản là 500.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh P đã tiến hành xác minh tại khu vực xung quanh nhà thờ Làng Lang thuộc khu D, xã M, huyện P về hành vi đánh nhau tại địa điểm công cộng là nhà thờ L2 có dấu hiệu của tội phạm gây rối trật tự công cộng, quy định tại Điều 318 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên qua xác minh đại diện Hội đồng giáo xứ L3, các hộ dân xung quanh khu vực nhà thờ đều xác định sự việc đánh nhau diễn ra nhanh, trong thời gian rất ngắn, không ảnh hưởng đến hoạt động chung, hoạt động bình thường của nhà thờ và khu dân cư.

Ngày 07/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh P đã ra Quyết định thay đổi Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Đỗ Quốc T từ tội “Cố ý gây thương tích” sang tội “Giết người”, theo quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Về bồi thường dân sự: Gia đình bị cáo Đỗ Quốc T đã tự nguyện bồi thường cho cháu Nguyễn Thanh V số tiền 61.000.000 đồng thiệt hại về sức khỏe và bồi thường về chiếc điện thoại bị hư hỏng của cháu Nguyễn Thanh V, gia đình không đề nghị bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đỗ Quốc T.

Cơ quan điều tra thu giữ các vật chứng sau: 01 đoạn kim loại hình trụ tròn, rỗng, dài 73cm, đường kính 02cm bị cong; 01 đoạn kim loại hình trụ tròn, rỗng, dài 75cm, đường kính 02cm; 01 thiết bị dạng máy cắt kim loại; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi8, số Imei l 866026048845208, số Imei 2 866026048845216, không lắp thẻ sim; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus số seri C38QQ24LGRX5, gắn sim thuê bao 0334005864; 01 điện thoại của Nguyễn Thanh V nhãn hiệu Iphone 6S vỏ màu xám, số Imei 354957073190921 bị vỡ màn hình.

Tại Cáo trạng số 58/CT-VKS-P2 ngày 07/6/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đã truy tố Đỗ Quốc T về tội “Giết người” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2023/HS-ST ngày 07/7/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ quyết định:

Tuyên bố: Đỗ Quốc T phạm tội “Giết người”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57; khoản 1, khoản 6 Điều 91; khoản 1 Điều 101; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Quốc T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

Ngoài ra, Tòa cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và thông báo về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 18/7/2023, ông Đỗ Ngọc C - đại diện hợp pháp của bị cáo Đỗ Quốc T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Ngày 21/7/2023, ông Nguyễn Văn H1 - đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thanh V có đơn kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng xác định bị cáo T không phạm tội giết người và giảm hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đỗ Quốc T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm mô tả và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho bị cáo.

Ông Đỗ Ngọc C - đại diện hợp pháp của bị cáo Đỗ Quốc T xác định việc bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Giết người” là đúng, vì vậy kháng cáo của ông chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trên cơ sở pháp luật để giảm hình phạt cho bị cáo.

Ông Nguyễn Văn H1 - đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ được áp dụng đối với bị cáo đã nêu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đỗ Quốc T về tội “Giết người” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội; mức hình phạt 07 năm tù đối với bị cáo là thỏa đáng theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, không có thêm tình tiết mới, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự xử không chấp nhận kháng cáo của đại diện của bị cáo và đại diện của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Luật sư Nhâm Mạnh H trình bày luận cứ bào chữa cho bị cáo T: Về tội danh, không nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát vì với diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo thì bị cáo chỉ phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự hoặc phạm tội “Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” theo quy định tại Điều 125 Bộ luật Hình sự. Trường hợp Hội đồng xét xử vẫn xác định bị cáo phạm tội “Giết người” thì đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra” theo điểm e khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Ngoài ra cần xem xét về hậu quả của vụ án (thương tích trực tiếp bị cáo gây ra cho nạn nhận chỉ chiếm tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể 30%, 16% còn lại là do nạn nhân ngã) và tình tiết mới là sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo bị các đối tượng khác đánh, gây thương tích 02 lần nên sức khỏe thể chất, tinh thần bị ảnh hưởng phải điều trị tại Bệnh viện tâm thần tỉnh P. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xác định bị cáo không phạm tội “Giết người” và chuyển tội danh cho bị cáo hoặc áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm e khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai và kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Kháng cáo của ông Đỗ Ngọc C (đại diện của bị cáo Đỗ Quốc T) và ông Nguyễn Văn H1 (đại diện của bị hại Nguyễn Thanh V) trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại và đại diện của bị hại vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Xét việc bị hại và đại diện của bị hại vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Lời khai nhận tội của bị cáo Đỗ Quốc T tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, của nhân chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra, vật chứng được thu giữ, các kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:

Chiều ngày 03/8/2022, sau khi được Đỗ Ngọc D (em họ bị cáo Đỗ Quốc T) rủ đi giải quyết mâu thuẫn cá nhân với Lê Quốc Đ, mặc dù biết được có thể sẽ xảy ra đánh nhau nhưng T vẫn đồng ý, đồng thời T, D cùng chuẩn bị hung khí là 02 đoạn ống tuýp bằng kim loại để mang theo đến điểm hẹn tại khuôn viên nhà thờ L2 thuộc khu D, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày 03/8/2022 tại khu vực trước bồn hoa bao quanh tượng Đ1 mẹ M1 trong khuôn viên nhà thờ L2, khi xô xát, đánh nhau giữa nhóm của D, Đ xảy ra, T chạy đến du đẩy những người đang đánh nhau với D thì bị đấm lại bằng tay nên T chạy đi lấy ống tuýp kim loại chuẩn bị từ trước. Thời điểm này khoảng 20 giờ 40 phút, khi T chạy về vị trí để 02 đoạn ống tuýp thì cháu Nguyễn Thanh V, sinh ngày 20/12/2009 chạy đuổi theo sau T. T cúi xuống nhặt đoạn ống tuýp kim loại (đoạn ống tuýp dài 73cm, đường kính 02cm, một phần đầu ống có cạnh sắc) lên cầm bằng tay phải đứng xoay người sang bên phải quay lại phía sau nên T đứng phía sau V. T vụt cái thứ nhất trúng vào vùng đỉnh chẩm sau đầu V, V quay lại đứng đối diện T thì T vụt ống tuýp liên tiếp thêm 02 nhát theo hướng từ trên xuống dưới về phía đầu V, trong đó có 01 nhát trúng vào trán bên trái làm gãy xương thành xoang trán trái, gãy xương ổ mắt bên trái V. Bị đánh trúng, V ôm hai tay lên đầu chạy cách vị trí bị T đánh khoảng 05m thì ngã xuống nền sân xi măng co giật gây nên các vết thương xây sát da vùng hàm mặt, 02 đầu gối. Hậu quả làm cháu V bị gãy phức tạp xương vùng trán trái, gãy xương ổ mắt trái, tổn thương nhu mô não thùy trán trái, gây thương tích cho cháu V với tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 46%.

Với hành vi nêu trên, các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử bị cáo Đỗ Quốc T về tội “Giết người” với tình tiết định khung “Giết người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật. Kháng cáo của đại diện bị hại và quan điểm của Luật sư cho rằng bị cáo Đỗ Quốc T không phạm tội “Giết người” là không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án, không phù hợp với quy định của pháp luật nên không có cơ sở chấp nhận.

Hành vi phạm tội của bị cáo Đỗ Quốc T thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, đặc biệt nguy hiểm cho xã hội. Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ về việc sử dụng ống tuýp kim loại dài 73cm, đường kính 02cm, một phần đầu ống có cạnh sắc là hung khí nguy hiểm đánh 03 nhát theo hướng từ trên xuống dưới, trúng 01 nhát vào vùng trán, 01 nhát vào vùng đỉnh chẩm là vùng trọng yếu trên cơ thể của cháu Nguyễn Thanh V, có thể làm nạn nhân chết nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội và có ý thức để mặc hậu quả xảy ra. Thực tế hậu quả chết người chưa xảy ra là ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, như vậy mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo cần xem xét đến các yếu tố sau: Về nhân thân, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Do hành vi phạm tội của bị cáo chưa gây ra hậu quả làm chết người nên thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt, vì vậy được áp dụng quy định tại Điều 15, khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự. Đồng thời, khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo mới 17 tuổi 15 ngày nên được áp dụng các quy định về việc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, cụ thể theo quy định tại các điều 91, 101, 102 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo ra đầu thú, quá trình điều tra và tại các phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại; bị hại cùng đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có ông nội Nguyễn Ngọc C3 là người có công với cách mạng, được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Trên cơ sở đánh giá đầy đủ, chính xác các yếu tố nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định xử phạt bị cáo Đỗ Quốc T mức hình phạt 07 năm tù là đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên trong vụ án này cũng cần phải xem xét đến việc bị cáo phạm tội là mang tính nhất thời, có một phần nguyên nhân đến từ phía bị hại và được đại diện bị hại kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo khi phạm tội khi tuổi còn trẻ, nhận thức về pháp luật hạn chế và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do đó, với nguyên tắc xử lý khoan hồng, nhân đạo của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy việc tạo điều kiện, cơ hội cho bị cáo được yên tâm cải tạo, sửa chữa lỗi lầm, sớm được trở lại với xã hội để trở thành công dân tốt là cần thiết. Do đó, kháng cáo của đại diện của bị cáo và đại diện của bị hại xin giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo được chấp nhận.

Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên ông Đỗ Ngọc C - đại diện của bị cáo Đỗ Quốc T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Chấp nhận kháng cáo của ông Đỗ Ngọc C - đại diện của bị cáo Đỗ Quốc T và ông Nguyễn Văn H1 - đại diện của bị hại Nguyễn Thanh V.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2023/HS-ST ngày 07/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ về hình phạt đối với của bị cáo Đỗ Quốc T, cụ thể như sau:

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Quốc T phạm tội “Giết người”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57; khoản 1, khoản 6 Điều 91; khoản 1 Điều 101; khoản 3 Điều 102; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Quốc T 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

2. Về án phí: Ông Đỗ Ngọc C - đại diện của bị cáo Đỗ Quốc T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ