vanban.org

Bản án 936/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của Anh Trương Quang H;

Anh Trương Quang H được ly hôn với Chị Bùi Minh L. Về con chung: Giao hai con chung là cháu Trương Kim Ngân; sinh ngày: 11/9/2014 và cháu Trương Đức Trọng, sinh ngày 14/9/2019 cho Chị L là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của Anh H cấp dưỡng tiền nuô…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hiếu - Bích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của Anh Trương Quang H;
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BA ĐÌNH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 936/2022/HNGĐ-ST
Ngày 16 tháng 12 năm 2022
V/v: Tranh chấp về ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Bá Xuân

2. Bà Đỗ Thị Sỹ Long

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình ghi biên bản phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình:

Bà Hoàng Thu Trang – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 16 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 733/2022/TLST – HN&GĐ ngày 01 tháng 10 năm 2022 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 409/2022/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 322/2022/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Trương Quang H; Sinh năm: 1987. Chứng minh nhân dân số: xxxxxxxxx do Công an tỉnh Thái Nguyên cấp ngày 28/3/2017. Nơi đăng ký HKTT: xã Thượng Đình, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Nơi cư trú: phường Kim Liên, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Anh H có mặt tại phiên tòa.

* Bị đơn: Chị Bùi Minh L; Sinh năm: 1991. Chứng minh nhân dân số: xxxxxxxxxx do Công an tỉnh Sơn La cấp ngày 26/9/2011. Nơi đăng ký HKTT: Thôn Áng Pháo, xã Cao Dương, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội. Nơi cư trú: phường Đội Cấn, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Chị L vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn anh Trương Quang H trình bày:

- Về tình cảm: Anh và Chị Bùi Minh L kết hôn trên cơ sở tự nguyện có tổ chức cưới hỏi có sự chứng kiến của hai bên gia đình và đăng ký kết hôn vào ngày 08 tháng 10 năm 2014 tại UBND xã Cao Dương, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội. Sau khi vợ chồng anh chị kết hôn thì thuê nhà ở khu vực phố Đội Cấn, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nhưng căng thẳng nhất vào khoảng tháng 8 năm 2020, từ thời điểm đó đến nay anh chuyển ra ở một mình, Chị L cùng 2 con thuê nhà ở số 19 ngõ 32 Đội Cấn, phường Đội Cấn, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội ở. Cách đây khoảng hơn 1 năm Chị L chuyển sang thuê nhà ở cùng 2 con anh chị tại địa chỉ số 21 ngách 45/194 Đội Cấn, phường Đội Cấn, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội ở cho đến nay.

Mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi chửi nhau. Anh cũng đã cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả. Tháng 12 năm 2020 anh và Chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đã làm đơn thuận tình ly hôn. Tuy nhiên, khi Tòa án mời đến làm việc Chị L không đồng ý ký biên bản thỏa thuận tại Tòa án nên anh rút đơn ly hôn.

Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với Chị L.

- Về con chung: Anh và Chị L có 02 con chung là Trương Kim Ngân; sinh ngày: 11/9/2014 và con Trương Đức Trọng, sinh ngày 14/9/2019. Khi ly hôn anh và Chị L cũng đã nói chuyện và thống nhất Chị L nuôi hai con chung, anh đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con 5.000.000 đồng/tháng, cụ thể mỗi cháu là 2.500.000 đồng/tháng. Việc thỏa thuận này anh thực hiện từ khi Tòa án có quyết định hoặc bản án ly hôn.

- Về tài sản chung (gồm động sản và bất động sản): Anh xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn hai bên tự lo chỗ ở và không có khiếu kiện thắc mắc gì.

- Về nợ: Anh xác nhận vợ chồng không vay nợ ai và không cho ai vay nợ, không vay nợ nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về việc triệu tập lấy lời khai và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn, tuy nhiên bị đơn vắng mặt không lý do, vì vậy Tòa án không tiến hành hòa giải cho nguyên đơn và bị đơn được, Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định các Điều 48; Điều 198; khoản 2, 3 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

+ Thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của người tham gia tố tụng các Điều 28, 39, 40 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

+ Chuyển thông báo thụ lý vụ án, các quyết định đến Viện kiểm sát và các tống đạt cho đương sự theo đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 175; Điều 191; Điều 195; Điều 196; Điều 199 và khoản 2 Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

+ Thực hiện nguyên tắc hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo khoản 1 Điều 205; khoản 2 Điều 207; khoản 2 Điều 208; Điều 209; Điều 210 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và khoản 4 Điều 3 Nghị quyết số 103/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội nước CHXHCNVN.

+ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời gian chuẩn bị xét xử đã được Thẩm phán thực hiện theo đúng quy định tại Điều 220; điểm a khoản 1, khoản 4 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

+ Hội đồng xét xử chấp hành đúng theo các nguyên tắc cơ bản về xét xử và thành phần Hội đồng xét xử đúng theo qui định tại Điều 63; Điều 227; 228 và chương II Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

+ Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 51; Điều 237 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

+ Đối với đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay đương sự đã được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 199; Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

* Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 2 Điều 4; khoản 1 Điều 28; khoản 2 Điều 42; Điều 267 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; 63; khoản 4 Điều 70; khoản 1 Điều 71; khoản 1, khoản 3 Điều 81; Điều 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015 để xem xét chấp nhận yêu cầu xin ly hôn. Vợ chồng Anh H, Chị L có hai con chung là cháu Trương Kim Ngân; sinh ngày: 11/9/2014 và con Trương Đức Trọng, sinh ngày 14/9/2019. Giao hai con chung cho Chị L là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của Anh H cấp dưỡng tiền nuôi con chung là 5.000.000 đồng/tháng, cụ thể mỗi cháu là 2.500.000 đồng/tháng. Về tài sản chung và nhà ở, vay nợ: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để tuyên nguyên đơn chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Trương Quang H và Chị Bùi Minh L có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Chị Bùi Minh L có nơi ở tại địa chỉ số 21 ngách 45/194 Đội Cấn, phường Đội Cấn, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Vì vậy, Tòa án tiến hành thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015.

[2] Về nội dung: Xét quan hệ hôn nhân giữa anh Trương Quang H và Chị Bùi Minh L là quan hệ hôn nhân hợp pháp có đăng ký kết hôn vào ngày 08 tháng 10 năm 2014 tại UBND xã Cao Dương, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội. Trong quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 8 năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống, sống không hợp nhau, sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Khi xảy ra mâu thuẫn hai bên đã giảng hòa nhưng không có kết quả. Khi mâu thuẫn của vợ chồng chị căng thẳng chị đã đưa hai con chung của anh chị ra ngoài sinh sống và vợ chồng đã ly thân từ thời điểm đó đến nay. Nay Anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ là không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn Chị Bùi Minh L.

Tòa án tiến hành lấy ý kiến tổ dân phố Đội Cấn nơi Chị L sinh sống với nội dung: Chị Bùi Minh L, sinh năm 1991 và hai con là cháu Trương Kim Ngân và cháu Trương Đức Trọng thuê nhà tại địa chỉ số 21 ngách 194/45 Đội Cấn, phường Đội Cấn, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội được khoảng hơn 1 năm. Từ khi Chị L thuê nhà tại địa chỉ trên, tổ dân phố chỉ thấy có Chị L, hai con và mẹ Chị L sinh sống ngoài ra không có ai khác. Tổ dân phố cũng không thấy chồng Chị L ở cùng Chị L và các con. Vì vậy mâu thuẫn của vợ chồng chị tổ dân phố không nắm được.

Tòa án đã tiến hành ghi lời khai của cháu Trương Kim Ngân; sinh ngày: 11/9/2014 con của anh Trương Quang H và Chị Bùi Minh L với nội dung: Cháu là con của bố Trương Quang H và mẹ Bùi Minh Lý. Cháu được biết hiện nay bố mẹ cháu đang giải quyết ly hôn tại Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Nếu bố mẹ cháu phải ly hôn, nguyện vọng của cháu được ở cùng với mẹ và em, để mẹ cháu chăm sóc, đưa cháu đi học.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Anh Trương Quang H và Chị Bùi Minh L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, trong quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn, hai bên gia đình đã hòa giải nhưng không có kết quả vợ chồng đã sống ly thân từ thời điểm năm 2020 đến nay. Tòa án cũng đã nhiều lần tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng Chị L đều vắng mặt không có lý do, Chị L không đến làm việc tại Tòa án thể hiện chị từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình. Thể hiện tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ là không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 xử cho anh Trương Quang H được ly hôn Chị Bùi Minh L là phù hợp.

Về con chung: Vợ chồng Anh H, Chị L có hai con chung là cháu Trương Kim Ngân; sinh ngày: 11/9/2014 và cháu Trương Đức Trọng, sinh ngày 14/9/2019. HĐXX nhận thấy, trong quá trình anh chị sống ly thân Chị L đã đưa hai con thuê nhà sinh sống, tuy vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn nhưng Anh H vẫn thường xuyên đến thăm nom, chăm sóc con chung. Khi ly hôn, Anh H có nguyện vọng để Chị L nuôi hai con chung và anh cấp dưỡng nuôi con là 5.000.000 đồng/tháng/02 con. Mặt khác, tại biên bản ghi lời khai của cháu Ngân, cháu Ngân cũng có nguyện vọng được ở với Chị L. Vì vậy, việc giao hai con chung cho Chị L chăm sóc là có căn cứ và phù hợp với nguyện vọng của con nên được chấp nhận. Ghi nhận sự tự nguyện của Anh H cấp dưỡng tiền nuôi con chung là 5.000.000 đồng/tháng/02 con.

Về tài sản chung (động sản và bất động sản): Anh H xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã có quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ về tài sản chung đối với Chị L. Tuy nhiên, Chị L cũng không cung cấp cho Tòa án ý kiến về tài sản chung nên Tòa án không xem xét. Dành quyền khởi kiện bằng vụ án khác cho Anh H, Chị L khi có yêu cầu.

Về khoản vay nợ: Anh H xác nhận vợ chồng không vay nợ nhau, không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã ra quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ về khoản vay nợ đối với Chị L. Tuy nhiên, Chị L cũng không cung cấp cho Tòa án ý kiến về khoản vay nợ nên Tòa án không xem xét. Dành quyền khởi kiện bằng vụ án khác cho Anh H, Chị L khi có yêu cầu.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Trương Quang H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Anh Trương Quang H và Chị Bùi Minh L có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các căn cứ và nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Áp dụng các Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39; Điều 70; khoản 4 Điều 147; các Điều 203; 228, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Căn cứ vào Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của Anh Trương Quang H;

Anh Trương Quang H được ly hôn với Chị Bùi Minh L.

2. Về con chung: Giao hai con chung là cháu Trương Kim Ngân; sinh ngày: 11/9/2014 và cháu Trương Đức Trọng, sinh ngày 14/9/2019 cho Chị L là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của Anh H cấp dưỡng tiền nuôi con chung là 5.000.000 (Năm triệu đồng) đồng/tháng/02 con, cụ thể mỗi con là 2.500.000 (Hai triệu, năm trăm nghìn) đồng/tháng. Thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 12/2022 cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật.

Anh Trương Quang H có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung (động sản và bất động sản): Anh Trương Quang H xác nhận không có tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét. Dành quyền khởi kiện bằng vụ án khác khi anh Trương Quang H, Chị Bùi Minh L có yêu cầu về tài sản chung.

Về khoản vay nợ: Anh Trương Quang H xác nhận vợ chồng không vay nợ nhau, không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét. Dành quyền khởi kiện bằng vụ án khác khi Anh Trương Quang H, Chị Bùi Minh L có yêu cầu.

4. Về án phí sơ thẩm: Anh Trương Quang H phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002416 ngày 27 tháng 9 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Án xử công khai sơ thẩm, anh Trương Quang H có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 16 tháng 12 năm 2022. Chị Bùi Minh L vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ