vanban.org

Bản án 930/2025/DS-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 29/12/2025 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/12/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Bùi Thị Hồng P -Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp"
  • Căn cứ chính? Điều 47 Luật Thi hành án dân sự; Luật Thi hành án; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 930/2025/DS-PT
Ngày 29/12/2025
“V/v Tranh chấp về dân sự bồi
thường thiệt hại nhả nước”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Trung Hiếu

Các Thẩm phán:

Ông Võ Ngọc Giàu.

Ông Nguyễn Lê Huy.

- Thư ký phiên tòa:

Bà Phan Thị Kim Loan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp:

Bà Nguyễn Thị Cẩm Thúy - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 544/2025/TLPT-DS ngày 10 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp về dân sự bồi thường thiệt hại nhà nước”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 120/2025/DS - ST ngày 24 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Đồng Tháp bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1190/2025/QĐ-PT ngày 06 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bùi Thị Hồng P, sinh năm 1958.

Địa chỉ: Số nhà C, tổ C, khóm C, phường C, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền của bà P: Trần Hà Xuân P1, sinh năm 1976;

Địa chỉ: Số I, đường P, phường C, tỉnh Đồng Tháp.

(Theo văn bản ủy quyền ngày 30/12/2025).

- Bị đơn: Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Quang H. Chức vụ: Trưởng Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.

Địa chỉ: Số A, Rạch G, phường M, tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Trọng T, sinh 1974, Chức vụ: Phó Trưởng phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 – Đồng Tháp.

Địa chỉ: Số G, đường L, phường C, tỉnh Đồng Tháp.

(Theo giấy ủy quyền ngày 21/11/2025).

Anh Nguyễn Trọng T có mặt tại phiên toà; anh Trần Hà Xuân P1 có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người kháng cáo: Bà Bùi Thị Hồng P là nguyên đơn và Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo án sơ thẩm, bà Bùi Thị Hồng P có người đại diện theo ủy quyền là anh Trần Hà Xuân P1 trình bày:

Bà P là người được thi hành án theo Quyết định số 23/2019/QĐST-DS, ngày 16/5/2019 của Toà án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp và Quyết định thi hành án theo yêu cầu số 1348/QĐ-CCTHADS, ngày 17/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Theo đó, bà Nguyễn Thị Thu T1 phải trả cho bà P số tiền là 700.000.000 đồng và tiền lãi chậm thi hánh án.

Việc thi hành án do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh tổ chức thi hành.

Khi biết được bà Nguyễn Thị Thu T1 có tiền do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh đang giữ số tiền 160.667.728 đồng, bà P yêu cầu Chấp hành viên lấy tiền này để trả cho bà P, Chấp hành viên không chấp nhận.

Ngày 24/6/2019, bà P khiếu nại tới Chi cục trưởng Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh. Ông Phạm Chí H1, Chi cục trưởng ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 04/QĐ-CCTHADS, ngày 08/7/2019 không chấp nhận khiếu nại của bà P.

Không đồng ý với Quyết định giải quyết khiếu nại số 04/QĐ-CCTHADS, ngày 08/7/2019, bà P tiếp tục khiếu nại đến Cục trưởng cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp. Quyết định giải quyết khiếu nại số 06/QĐ-CTHADS, ngày 21/5/2021 tiếp tục không chấp nhận khiếu nại của bà P.

Trong thời gian bà P liên tục khiếu nại chưa có kết luận cuối cùng của cơ quan có thẩm quyền thì vào ngày 17/3/2021, Chi cục thi hành án thành phố Cao Lãnh lấy số tiền 160.667.728 đồng của bà Nguyễn Thị Thu T1 để nộp án phí cho bà T1 số tiền 21.600.000 đồng còn lại số tiền 139.067.728 đồng chi trả hết cho bà Trần Thị Kim H2.

Không đồng ý với việc làm sai trái này của Cơ quan Thi hành án, bà P đã nhiều lần khiếu nại, sau cùng vào ngày 29/8/2022 Tổng cục Thi hành án ban hành Quyết định số 670/QĐ-TCTHADS. Theo Quyết định này thì Tổng cục thi hành án dân sự đã xác định việc Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh và Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp lấy tiền của bà Nguyễn Thị Thu T1 chi tiền cho bà Trần Thị Kim H2 là không đúng pháp luật. Tổng cục đã chấp nhận khiếu nại của bà P và Tổng cục đã huỷ Quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án số 72/QĐ-CCTHADS, ngày 16/4/2021 của Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, Huỷ Quyết định về việc giải quyết số 04/QĐ-CCTHADS, ngày 08/7/2019 của Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh và Quyết định giải quyết khiếu nại số 06/QĐ-CTHADS, ngày 21/5/2021 của Cục trưởng cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.

Nay các Quyết định giải quyết khiếu nại của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh và Cục trưởng Cục thi hành án tỉnh Đồng Tháp bị cơ quan có thẩm quyền huỷ bỏ. Đáng lẽ, bà P mới là người được hưởng số tiền 160.667.728 đồng của bà Nguyễn Thị Thu T1 nhưng Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh lấy số tiền 160.667.728 đồng của bà T1 để nộp án phí số tiền 21.600.000 đồng và chi trả hết cho bà Trần Thị Kim H2 số tiền 139.067.728 đồng là trái quy định gây thiệt hại cho bà P.

Đại diện Chi Cục thi hành án cũng yêu cầu bồi thường cho bà P số tiền 90.000.000 đồng (chỉ nói miệng) nhưng bà P không đồng ý.

Nay bà P yêu cầu Toà án giải quyết như sau:

- Yêu cầu buộc Chi cục Thi hành dân sự thành phố C bồi thường cho bà P số tiền 160.667.728 đồng.

- Buộc Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh phải bồi thường các khoản chi phí liên quan đến việc khiếu nại của bà P trong những năm qua cụ thể như sau:

+ Thiệt hại do thu nhập không ổn định bị mất tính từ ngày 08/7/2019 đến ngày 08/6/2024 (54 tháng), 01 ngày lương tối thiểu vùng là 121.000 đồng/ngày x 1 tháng 26 ngày = 3.146.000 đồng x 54 tháng = 169.888.000 đồng.

+ Chi phí đi lại, in ấn tài liệu theo khoản 2 Điều 22 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước: Số tiền bằng 06 tháng lương cơ sở cho 01 năm bà P khiếu nại là 2.340.000 đồng/tháng x 6 tháng = 14.040.000 đồng/1năm x 3 năm = 42.120.000 đồng.

+ Chi phí gửi đơn thư theo khoản 2 Điều 22 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước: Số tiền bằng 01 tháng lương cơ sở cho 01 năm bà P đi khiếu nại là: 2.340.000 đồng/tháng x 3năm = 7.020.000 đồng.

+ Chi phí nhờ người tư vấn cho bà P khiếu nại theo điểm b khoản 1 Điều 12 Luật khiếu nại tính theo hợp đồng tư vấn khoán hàng tháng là 2.000.000 đồng/tháng x 38 tháng = 76.000.000 đồng.

Tổng cộng khoản chi phí là 169.888.000 đồng + 42.120.000 đồng + 7.020.000 đồng + 76.000.000 đồng = 295.028.000 đồng theo luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Như vậy, tổng số tiền Chi cục thi hành dân sự thành phố C phải bồi thường là 160.667.728 đồng + 295.028.000 đồng = 455.695.728 đồng.

* Bị đơn Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp có ông Nguyễn Trọng T là người đại diện theo uỷ quyền trình bày:

Theo Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự số 23/2019/QDST-DS, ngày 16/5/2019 của Toà án nhân dân thành phố Cao Lãnh “Bà Bùi Thị Hồng P yêu cầu bà Nguyễn Thị Thu T1 có nghĩa vụ trả số tiền vay còn thiếu là 700.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Bà Nguyễn Thị Thu T1 đồng ý trả cho bà Bùi Thị Hồng P số tiền còn thiếu là 700.000.000 đồng.

Căn cứ Quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật và đơn yêu cầu thi hành án của bà Bùi Thị Hồng P, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh ra Quyết định thi hành án theo yêu cầu số 1348/QĐ-CCTHADS, ngày 17/5/2019 để đưa vụ việc ra tổ chức thi hành, Chấp hành viên tiến hành các trình tự, thủ tục theo quy định.

Trước khi quyết định thi hành án theo yêu cầu của Bùi Thị Hồng P, bà Nguyễn Thị Thu T1 là người được thi hành án theo Quyết định thi hành án số 431/QĐ-CCTHADS, ngày 28/11/2017 của Chi cục trưởng Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh. Theo đó, ông Trần Văn M, bà Huỳnh Thị H3 phải liên đới trả cho bà T1 số tiền 3.306.000.000 đồng. Ngày 05/12/2018, Chi cục THADS thành phố C xử lý tiền bán nhà, đất và tài sản trên đất của hộ ông Trần Văn M thì bà Nguyễn Thị Thu T1 được hưởng số tiền 160.667.728 đồng.

Ngày 28/12/2018, theo yêu cầu của bà Trần Thị Kim H2, Toà án nhân dân thành phố Cao Lãnh có Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 04/2018/QĐ-BPKCTT phong toả số tiền của bà T1 do Chi cục T3 đang quản lý là 160.667.728 đồng. Chi cục trưởng chi cục T3 ra Quyết định thi hành án chủ động số 842/QĐ-CCTHADS, ngày 02/01/2019 để thi hành quyết định của Toà án.

Ngày 03/01/2019, Chấp hành viên ra Quyết định số 62/QU-CCTHADS về việc phong tỏa tài sản đối với bà Nguyễn Thị Thu T1 số tiền 160.667.728 đồng hiện đang do Chi cục THADS thành phố C quản lý.

Sau khi xử lý tiếp phần tài sản kê biên của ông Trần Văn M, bà Huỳnh Thị H3 đảm bảo thi hành cho bà Nguyễn Thị Thu T1. Ngày 06/6/2019, Chấp hành viên đã kết chuyển số tiền của bà T1 được hưởng của ông M bà H3 để trả cho bà Bùi Thị Hồng P là 67.375.080 đồng.

Ngày 06/8/2019, TAND thành phố Cao Lãnh ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 04/2019/QĐST-DS, nội dung: "Bà Nguyễn Thị Thu T1 trả cho bà Trần Thị Kim H2 số tiền 440.000.000 đồng (Bốn trăm bốn mươi triệu đồng) và lãi chậm thi hành án, án phí dân sự sơ thẩm phải nộp 21.600.000 đồng. Tiếp tục áp dụng Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 04/2018/QD-BPKCTT ngày 28/12/2018 để đảm bảo thi hành án".

Căn cứ Quyết định của Tòa án và đơn yêu cần thi hành án của bà Trần Thị Kim H2. Chi cục trưởng Chi cục THADS thành phố C ra Quyết định theo yêu cầu số 1844/QD-CCTELADS ngày 08/8/2019 để đưa vụ việc ra tổ chức thi hành. Ngày 14/8/2019, Chi cục THADS thành phố C có Công văn số 860/CCTHADS-VP đề nghị Tòa án giải thích đối với Quyết định công nhân sự thỏa thuận của các đương sự số 04/2019/QĐST-DS về áp dụng Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để đảm bảo thi hành án.

Ngày 30/9/2019, Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh có Văn bản số 79/TA-VP để giải thích, nội dung: "Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 04/2018/QĐ-BPKCTT để đảm bảo thi hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 04/2019/QĐST-DS không liên quan gì đến Quyết định công nhận sự thỏa thuận vủa các đương sự số 23/2019/QĐST-DS ngày 16/5/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh".

Ngày 17/10/2019, Chi cục THADS thành phố C có Công văn số 1067/CCTHADS-VP báo cáo Cục T4 và xin ý kiến chỉ đạo nghiệp vụ về việc xử lý số tiền theo Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và Văn bản giải thích của Toà án nêu trên. Do có quan điểm khác nhau về việc thanh toán tiền thi hành án, ngày 06/5/2020, Cục T4 tổ chức họp liên ngành, có sự đại diện của các ngành Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Cuộc họp đã thống nhất ý kiến kết luận: Căn cứ Điều 10 Thông tư Liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 01/8/2016 của Bộ tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự. Chi cục THADS thành phố C có văn bản kiến nghị Tòa án nhân dân cấp cao xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với Quyết định 04/2019/QĐST-DS ngày 06/8/2019 và Văn bản giải thích số 79/TA-VP Ngày 30/9/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh. Nếu hết thời gian trả lời kiến nghị trong thời hạn 03 tháng, trường hợp vụ việc phức tạp thì không quá 04 tháng kể từ ngày nhận được kiến nghị, vẫn không nhận được văn bản trả lời thì Chi cục THADS thi hành theo quyết định và văn bản giải thích của Toà án nhân dân thành phố Cao Lãnh.

Ngày 15/7/2020, Chi cục THADS thành phố C có Công văn số 589/KN-CCTHADS, kiến nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với Quyết định 04/2019/QĐST-DS ngày 06/8/2019 và Văn bản giải thích số 79/TA-VP Ngày 30/9/2019 của TAND thành phố Cao Lãnh. Ngày 18/8/2020, Chi cục THADS thành phố C nhận được giấy xác nhận số 2246/GXN-DS-TANDCC ngày 04/8/2020 về việc nhận văn bản kiến nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm của Chi cục THADS thành phố C.

Hết thời thời hạn 03 tháng (kể từ ngày có giấy xác nhận), Tòa án nhân dân cấp cao không có văn bản trả lời đối với kiến nghị nêu trên, nên ngày 10/12/2020, Chi cục THADS thành phố C tiếp tục có Công văn số 1183/CV-CCTHADS gửi TAND cấp cao xem xét lại Quyết định 04/2019/QPST-DS ngày 06/8/2019 và Văn bản giải thích số 79/TA-VP Ngày 30/9/2019 của TAND thành phố Cao Lãnh, nhưng vẫn không nhận được văn bản trả lời.

Thực hiện theo Công văn số 168/CTHADS-NV ngày 09/3/2021 của Cục T4 về việc hướng dẫn nghiệp vụ thi hành án. Ngày 15/3/2021, Chấp hành viên lập bảng kê phân phối tiền thi hành đối với số tiền 176.004.832 đồng (vốn gốc 160.667.728 đồng, tiền lãi là 15.337.104 đồng). Cụ thể:

+ Đối với số tiền 160.667.728 đồng của bà Nguyễn Thị Thu T1 hiện, đang do Chi cục THADS thành phố C quản lý theo Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 04/2018/QP-BPKCTT ngày 28/12/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh.

Căn cứ khoản 2 Điều 9 Thông tư 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 01/8/2016, khoản 3 Điều 47 Luật Thi hành án dân sự, Chi cục THADS căn cứ Văn bản giải thích số 79/TA-VP ngày 30/9/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh để tổ chức thi hành để đảm bảo thi hành án Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 04/2019/QĐST-DS ngày 06/8/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh (Số tiền 160.667.728 đồng ưu tiên thu nộp 21.600.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, số tiền còn lại chi trả cho bà Trần Thị Kim H2).

+ Đối với số tiền lãi phát sinh 15.337.104 đồng, chia tỷ lệ cho bà Trần Thị Kim H2 được hưởng 4.944.104 đồng, bà Bùi Thị Hồng P được hưởng 10.393.000 đồng.

Ngày 17 và 18/3/2021, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh đã tiến hành chi trả cho bà H2 và bà P.

Ngày 19/4/2021, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh phát hành Thông báo số 368/TB-CCTHADS, T2 bán cho Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh biết việc thanh toán tiền thi hành án nêu trên.

Đối chiếu các quy định pháp luật với quá trình tổ chức thi hành án vụ việc nêu trên, Chi cục THADS thành phố C nhận thấy không có sai sót, vi phạm làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự nên không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Bùi Thị Hồng P.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 120/2025/DS-ST ngày 24/6/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Đồng Tháp đã quyết định:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Hồng P.

Buộc Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh bồi thường cho bà Bùi Thị Hồng P số tiền 80.673.357 đồng (tám mươi triệu sáu trăm bảy mươi ba nghìn ba trăm năm mươi bảy đồng).

2. Không chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị Hồng P yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh bồi thường Thiệt hại do thu nhập không ổn định bị mất tính từ ngày 08/7/2019 đến ngày 08/6/2024; Chi phí đi lại, in ấn tài liệu; Chi phí gửi đơn thư; Chi phí nhờ người tư vấn tổng số tiền là 295.028.000 đồng.

3. Không chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị Hồng P yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh bồi thường số tiền 79.994.371 đồng.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí dân sự sơ thẩm, thời hạn kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 07/7/2025 bà Bùi Thị Hồng P kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm số 120/2025/DS-ST ngày 24/6/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Đồng Tháp, yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm tuyên chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bà P, buộc Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp) bồi thường số tiền 455.695.728 hoặc bồi thường số tiền 80.673.357 đồng và tiền lãi do không thanh toán kịp thời tại thời điểm ngày 15/3/2021 đến nay theo mức lãi suất 10%/năm, đến 15/6/2025 là 51 tháng = 34.149.032 đồng + 80.673.357 dồng = 114.822.389 đồng.

Ngày 07/7/2025 Thi hành án dân sự tỉnh Đ kháng cáo Bản án sơ thẩm số 120/2025/DS-ST ngày 24/6/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Đồng Tháp, yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm đưa Tòa án nhân dân khu vực 6 – Đồng Tháp (Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp cũ) vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Hồng P đối với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn bà Bùi Thị Hồng P (có người đại diện theo ủy quyền anh Trần Hà Xuân P1) có đơn xin vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Bị đơn đại diện Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát phân tích về nhận định, quyết định của án sơ thẩm. Qua đó cho rằng, đối với kháng cáo của bà P về yêu cầu bồi thường chi phí đi lại, in ấn tài liệu và chi phí gửi đơn thư khiếu nại là có cơ sở chấp nhận nên cần sửa án sơ thẩm về phần này. Đối với kháng cáo của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp, Viện kiểm sát xác định là phải thi hành theo Luật Thi hành án dân sự. Do đó kháng cáo của Thi hành án là không có căn cứ, đề nghị không chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Bà Bùi Thị Hồng P yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh bồi thường thiệt hại theo Luật trách nhiệm Nhà nước nên Toà án nhân dân khu vực 6 – Đồng Tháp xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về dân sự bồi thường thiệt hại Nhà nước” là đúng quy định tại khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 07/7/2025 nguyên đơn Bùi Thị Hồng P, bị đơn Thi hành dân sự tỉnh Đồng Tháp kháng cáo Bản án sơ thẩm số 120/2025/DS-ST ngày 24/6/2025 của Tòa án nhân khu vực 6 - Đồng Tháp. Xét thấy, thủ tục, trình tự kháng cáo là phù hợp với quy định tại các Điều 271, 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án được giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

Có căn cứ xác định bà Nguyễn Thị Thu T1 là người phải thi hành cùng lúc 02 quyết định công nhận sự thỏa thuận cho bà Trần Thị Kim H2 và bà Bùi Thị Hồng P. Theo Quyết định công nhận sự thoả thuận số 04/2019/QĐST-DS, ngày 06/8/2019 có nội dung: Tiếp tục áp dụng Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 04/2018/QĐ-BPKCTT, ngày 28/12/2018 để đảm bảo thi hành án. Căn cứ vào văn bản trả lời của Tòa án nhân dân khu vực 6, tỉnh Đồng Tháp, Thi hành án đã chuyển số tiền tạm giữ theo quyết định để thi hành cho bà H2. Việc thi hành như trên được thực hiện căn cứ vào quyết định của Tòa án trên tinh thần ưu tiên với vụ việc có biện pháp bảo đảm. Tuy nhiên qua khiếu nại của bà P, tại quyết định số 670/QĐ- TCTHADS ngày 29/8/2022 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự đã:

Chấp nhận khiếu nại của bà Bùi Thị Hồng P đối với quyết định giải quyết khiếu nại số 06/QĐ-CTTHADS ngày 21/2021 của Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.

Hủy quyết định giải quyết khiếu nại số 06/QĐ-CTTHADS ngày 21/2021 của Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp; Hủy quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án số 72/QĐ- CCTHADS ngày 16/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.

Căn cứ vào quyết định trên của Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự, xác định việc thi hành án như trên là sai. Do đó, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã buộc Thi hành án phải bồi thường như nêu trên. Từ đó, căn cứ vào Luật Thi hành án Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm nhận định:

[2.1] Xét kháng cáo của bà Bùi Thị Hồng P, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

Theo Quyết định công nhận sự thoả thuận số 23/2019/QĐST-DS, ngày 16/5/2019 thì bà Nguyễn Thị Thu T1 phải thi hành án cho bà Bùi Thị Hồng P số tiền 700.000.000 đồng. Đến ngày 16/5/2019 bà P có đơn yêu cầu Thi hành án và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh ra Quyết định thi hành án theo yêu cầu số 1384/QĐ-CCTHADS, ngày 17/5/2019. Sau khi xử lý tiếp phần tài sản kê biên của ông Trần Văn M, bà Huỳnh Thị H3 đảm bảo thi hành cho bà Nguyễn Thị Thu T1. Ngày 06/6/2019, Chấp hành viên đã kết chuyển số tiền của bà T1 được hưởng của ông M, bà H3 để trả cho bà Bùi Thị Hồng P là 67.375.080 đồng. Như vậy, bà T1 còn phải thi hành án cho bà P số tiền là 632.624.920 đồng.

Theo Quyết định công nhận sự thoả thuận số 04/2019/QĐST-DS, ngày 06/8/2019 thì bà Nguyễn Thị Thu T1 phải thi hành án cho bà Trần Thị Kim H2 số tiền 440.000.000 đồng. Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh ra Quyết định thi hành án theo yêu cầu số 1844/QĐ-CCTHADS, ngày 08/8/2019. Theo như nội dung Quyết định công nhận sự thoả thuận số 04/2019/QĐST-DS, ngày 06/8/2019 của Toà án nhân dân thành phố Cao Lãnh thì có thể hiện nội dung: “Tiếp tục áp dụng Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 04/2018/QĐ-BPKCTT, ngày 28/12/2018 để đảm bảo thi hành án”.

Theo Quyết định công nhận sự thoả thuận số 04/2019/QĐST-DS, ngày 06/8/2019 thể hiện áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nhưng không thể hiện rõ là để ưu tiên thi hành án cho một vụ việc cụ thể nào nên Chi cục thi hành án dân sự không thể dùng số tiền 160.667.728 đồng để ưu tiên chi trả cho bà H2. Do đó, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh phải căn cứ vào các quy định của pháp luật về Thi hành án dân sự để thi hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 23/2019/QĐST-DS, ngày 16/5/2019 cho bà P.

Như vậy, số tiền 160.667.728 đồng, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh gửi vào Ngân hàng được số tiền lãi là 15.337.104 đồng. Nên lấy số tiền gốc và lãi cộng lại là 160.667.728 đồng + 15.337.104 đồng = 176.004.832 đồng.

Số tiền này Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh phân phối như sau:

Số tiền 176.004.832 đồng – 21.600.000 đồng (án phí bà T1 phải nộp) = 154.404.832 đồng.

Do đó, số tiền còn lại là 154.404.832 đồng sẽ được chia tỷ lệ cho bà H2 và bà P như sau:

Bà P được chia số tiền là 91.0666.357 đồng trừ đi số tiền mà bà P đã được nhận từ chia tỷ lệ phần lãi mà Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh đã chi cho bà P số tiền là 10.393.000 đồng vào ngày 18/03/2021. Vì vậy, Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh phải tiếp tục trả cho bà P số tiền là 80.673.357 đồng.

Do đó, trường hợp này, Chi cục thi hành dân sự thành phố C phải thi hành theo tỷ lệ cho bà P và bà H2 số tiền gốc và lãi. Nhưng Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh chỉ chia tỷ lệ phần lãi cho bà H2 và bà P còn số tiền 160.667.728 đồng sau khi trừ án phí thì Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh chi cho mình bà H2 là không phù hợp với quy định tại khoản 1, 2 Điều 47 Luật thi hành án dân sự.

Việc Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh phân phối tiền thi hành án cho người được thi hành án không đúng theo quy định của pháp luật nhưng sau đó ban hành Quyết định số 72/QĐ-CCTHADS, ngày 16/4/2021 về việc chưa có điều kiện thi hành án là không đúng với quy định tại Điều 44a Luật Thi hành án dân sự.

Từ những cơ sở nêu trên, bà P yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh bồi thường số tiền 160.667.728 đồng là có cơ sở chấp nhận một phần. Vì vậy, buộc Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh bồi thường cho bà P số tiền là 80.673.357 đồng là có căn cứ.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Bùi Thị Hồng P không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh rằng yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ. Do đó, không có cơ sở để chấp nhận các kháng cáo của bà P. Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[2.2] Xét kháng cáo của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

Hội đồng xét xử xét thấy, theo văn bản giải thích số 79/TA-VP Ngày 30/9/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh không thể hiện nội dung ưu tiên thi hành án cụ thể cho ai. Việc thi hành án thi hành Bản án, Quyết định là phải thi hành án theo Luật thi hành án dân sự. Do đó, Chi cục cho rằng thi hành án trong vụ án này theo văn bản giải thích số 79/TA-VP Ngày 30/9/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh là không có cơ sở. Vì vậy, Toà án nhân dân thành phố Cao Lãnh không có liên quan đến việc thi hành của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh trong vụ án này nên không chấp nhận ý kiến của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh là có căn cứ.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử buộc Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh bồi thường cho bà Bùi Thị Hồng P số tiền 80.673.357 đồng (tám mươi triệu sáu trăm bảy mươi ba nghìn ba trăm năm mươi bảy đồng). Không chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị Hồng P yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh bồi thường Thiệt hại do thu nhập không ổn định bị mất tính từ ngày 08/7/2019 đến ngày 08/6/2024; Chi phí đi lại, in ấn tài liệu; Chi phí gửi đơn thư; Chi phí nhờ người tư vấn tổng số tiền là 295.028.000 đồng. Không chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị Hồng P yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh bồi thường số tiền 79.994.371 đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, nên giữ nguyên quyết định của bản án dân sự sơ thẩm số 120/2025/DS-ST ngày 24/6/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Đồng Tháp.

[3] Xét thấy lời phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tại phiên toà phúc thẩm được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án và được chấp nhận 01 phần.

[4] Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[5] Những phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 và khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Bùi Thị Hồng P.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 120/2025/DS-ST ngày 24/6/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Đồng Tháp.

Căn cứ khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 203, Điều 266, Điều 271 và diều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 357, khoản 2 Điều 468; khoản 4 Điều 589; Điều 598 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1, 2 Điều 47, Điều 44a Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014;

Căn cứ các Điều 2, Điều 3, Điều 5, Điều 7, Điều 8, Điều 12, Điều 21, Điều 22, Điều 39, Điều 52, Điều 53 và Điều 76 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Căn cứ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Hồng P.

Buộc Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh bồi thường cho bà Bùi Thị Hồng P số tiền 80.673.357 đồng (tám mươi triệu sáu trăm bảy mươi ba nghìn ba trăm năm mươi bảy đồng).

2. Không chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị Hồng P yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh bồi thường Thiệt hại do thu nhập không ổn định bị mất tính từ ngày 08/7/2019 đến ngày 08/6/2024; Chi phí đi lại, in ấn tài liệu; Chi phí gửi đơn thư; Chi phí nhờ người tư vấn tổng số tiền là 295.028.000 đồng.

3. Không chấp nhận yêu cầu của bà Bùi Thị Hồng P yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh bồi thường số tiền 79.994.371 đồng.

4. Về nghĩa vụ thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

5. Về án phí: Các đương sự không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, dân sự phúc thẩm.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

7. Các phần quyết định còn lại của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ