- Tranh chấp gì? "NHAN GIA BẢO VÀ ĐỒNG PHẠM - cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật…"
- Tòa quyết gì? Áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với ĐHLB;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KH Bản án: 93/2023/HS-PT Ngày 13 tháng 9 năm 2023 NHÂN DANH |
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Xuân Oanh
Các Thẩm phán:
Bà Võ Thị Trầm
Ông Nguyễn Trung Tín
- Thư ký phiên tòa: Ông Phùng Tấn Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh KH.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh KH tham gia phiên tòa: Bà Lê Ánh Dương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh KH xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 92/2023/TLPT - HS ngày 03 tháng 8 năm 2023 đối với các bị cáo NGB, ĐHLB, LVMHdo có kháng cáo của bị cáo NGB,Viện kiểm sát nhân dân tỉnh KH kháng nghị đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 182/2023/HS-ST ngày 22 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố NT, tỉnh KH.
- Bị cáo có kháng cáo và kháng nghị:
NGB; Giới tính: Nam; Sinh năm: 2004; Nơi sinh: KH; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 4 BL, phường VH, thành phố NT; Nơi cư trú: 53/32 CVB, phường VP, thành phố NT; Nghề nghiệp: Lao động tự do;Trình độ văn hóa: 06/12; Cha: NDS, sinh năm: 1975 và mẹ: TTBD, sinh năm: 1983; Tiền án, tiền sự: Không; Bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18/11/2022. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị cáo có kháng nghị:
1. ĐHLB; Giới tính: nam; Sinh năm: 2000; Nơi sinh: KH; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa Giáo; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 4 DN, phường VH, thành phố NT; Nơi cư trú: 36/3 NK, phường VH, thành phố NT; Nghề nghiệp: Lao động tự do;Trình độ văn hóa: 10/12; Cha: DBT, sinh năm: 1976 và mẹ: TTTT, sinh năm: 1978;
Tiền án: Ngày 13/5/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố NT, tỉnh KH xử phạt 03 năm tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” tại bản án số 85/2020/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/6/2022. Tiền sự: Không; Bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18/11/2022. Có mặt tại phiên tòa.
2. LVMH; Giới tính: nam; Sinh năm: 2000; Nơi sinh: KH, Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi cư trú: 04 HT, phường VT, thành phố NT; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Cha: LVCM, sinh năm: 1972 và mẹ: PTNH, sinh năm: 1972; Tiền án, tiền sự: Không; Bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18/11/2022. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 05/9/2022, NTLcùng PPTvà H (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đến uống cà phê tại quán Game – Coffee, địa chỉ: số 52 đường A1, khu đô thị VĐT, xã VH, thành phố NT. Lúc này, tại quán có nhóm của NGB đang uống cà phê gồm: NGB, NGH (bạn gái B), ĐHLB, LVMH, Ltmu. Do có quen biết từ trước với GH nên L chọc ghẹo Hn làm Gia B bực tức, đồng thời L có dùng tay vỗ nhẹ lên đầu Long B. Một lúc sau, L chở H về trước rồi tiếp tục quay lại quán cà phê ngồi chơi cùng T. Nhóm Gia B cũng đi về. Khi đến đầu đường HT, phường VT, thành phố NT, Gia B rủ Long B quay lại quán cà phê để đánh L, T. Long B đồng ý, rồi đi lấy 02 (hai) cây đao tự chế màu đen (01 cây dài khoảng 60 cm, 01 cây dài khoảng 40 cm) cất giấu trước đó tại bãi đất trống gần nH. Gia B gọi điện thoại cho H đến chở mình và Long B quay lại quán cà phê Game – Coffee. Trên đường đi, H thấy Long B, Gia B cầm “đao” nên hỏi Gia B thì Gia B nói đem đạo đi đánh L và T thi H vẫn đồng ý chở đi. Khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, khi H dừng xe trước quán, Gia B cầm 01 cây đao dài 60 cm xông vào trước, Long B cầm theo cây đạo dài 40 cm đi theo ngay phía sau. Gia B đi đến nơi L và T đang ngồi và dùng đạo chém 02 nhát trúng tay trái của L gây thương tích. Long B cầm đao chém nhiều nhát vào vùng cHn trái của T gây thương tích. Sau đó, cả hai bỏ chạy ra ngoài để H chở đi. Long B cất giấu 02 đao tự chế lại chỗ cũ. Đến sáng ngày 07/9/2022, Long B tự đi đến bãi đất trống khu vực đèo LS, xã VL, thành phố NT ném bỏ 02 thanh đao trên. Sau khi bị chém, L, T đi đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh KH cấp cứu. Chị Ngô H Cẩm Quỳnh là chủ quán cà phê đến Công an xã VH, thành phố NT trình báo sự việc.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 422/TgT-TTPY ngày 30/9/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh KH kết luận: Vùng cẳng tay trái có 02 vết sẹo kích thước trung bình, tổn thương hỗn hợp bó mạch thần kinh trụ - xương trụ - gân vùng cẳng tay trái. Tổng tỷ lệ % tổn thương cơ thể của ông NTLlà 54%.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 421/TgT-TTPY ngày 30/9/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh KH kết luận: Vùng bàn cHn trái mặt ngoài có 01 vết sẹo kích thước trung bình, vùng bàn cHn trái ngón I có 01 vết sẹo kích thước nhỏ, gãy đốt 01 ngón I bán cHn trái, gãy xương bàn V cHn trái. Tổng tỷ lệ % tổn thương cơ thể của ông PPTlà 08%.
Tại bản cáo trạng số 91 ngày 15/3/2023 Viện kiểm sát nHn dân THnh phố NT đã truy tố các bị cáo NGB, ĐHLB, LVMH về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c khoản 3 (viện dẫn điểm a, i khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 182/2023/HS-ST ngày 22 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nHn dân tHnh phố NT quyết định:
Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134 (viện dẫn điểm a điều 134) BLHS; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo NGB và bị cáo LVMH.
Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; (viện dẫn điểm a điều 134) BLHS; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo ĐHLB.
- Xử phạt: Bị cáo NGB 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “ Cố ý gây thương tích”. Thời gian tù tính từ ngày bắt tạm giam, tạm giữ 18/11/2022.
- Xử phạt: Bị cáo ĐHLB 04 (bốn) năm 06 ( sáu) tháng tù về tội: “ Cố ý gây thương tích”. Thời gian tù tính từ ngày bắt tạm giam, tạm giữ 18/11/2022.
- Xử phạt: Bị cáo LVMH04 (bốn) năm tù về tội: “ Cố ý gây thương tích”. Thời gian tù tính từ ngày bắt tạm giam, tạm giữ 18/11/2022.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại NTL; PPTcó đơn xin xét xử vắng mặt nên tách ra để giải quyết tHnh vụ án dân sự khác khi có yêu cầu. Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông LVCM không xem xét, giải quyết.
Ngoài ra bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 06 tháng 7 năm 2023, bị cáo NGB có đơn kháng theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngày 21 tháng 7 năm 2023, Viện kiểm sát nHn dân tỉnh KH kháng nghị bản án theo Quyết định kháng nghị số 90/QĐ-VKS-P7 theo hướng tăng nặng hình phạt đối với 02 bị cáo NGB, ĐHLB; giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo LVMH.
Tại phiên tòa, bị cáo Nha Gia Bào rút kháng cáo; Đại diện Viện kiểm sát nHn dân tỉnh KH phát biểu tại phiên tòa phúc thẩm đề nghị áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134 (viện dẫn điểm a, i khoản 1 Điều 134) BLHS, tăng hình phạt đối với 02 bị cáo NGB, ĐHLB; giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo LVMH
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Viện kiểm sát nHn dân tỉnh kháng nghị bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định Quyết định kháng nghị được cấp phúc thẩm xem xét.
Bị cáo Nha Gia B rút đơn kháng cáo nên không xem xét thời hạn kháng cáo của bị cáo.
[2] Xét nội dung kháng nghị:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo NGB, ĐHLB; LVMHthừa nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện như nội dung bản án sơ thẩm 182/2023/HS-ST ngày 22 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nHn dân tHnh phố NT, tỉnh KH.
Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hnh vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác, có đủ cơ sở cấu tHnh tội: “Cố ý gây thương tích”.
Mặc dù, mâu thuẫn giữa bị cáo NGB với bị hại L với lý do nhỏ nhặt không đáng kể và không có mâu thuẫn gì với bị hại T; Các bị cáo ĐHLB và LVMHkhông có mâu thuẫn với bị hại nhưng các bị cáo đã chuẩn bị hung khí nguy hiểm sẵn sàng tấn công gây thương tích bị hại. Hnh vi của các bị cáo là có tính chất côn đồ. Tuy nhiên, Cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 (viện dẫn điểm a khoản 3 Điều 134) Bộ luật Hình sự là thiết sót trong áp dụng pháp luật, cần áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Vai trò của từng bị cáo NGB là người chủ mưu, rủ rê và người là người thực Hnh rất tích cực, bị cáo ĐHLB là người thực Hnh rất tích cực, bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích.
Bản án sơ thẩm tuyên xử phạt bị cáo NGB, ĐHLB 04 năm 06 tháng tù là chưa tương xứng với tính chất, mức độ, Hnh vi phạm tội của các bị cáo, chưa đủ nghiêm khắc để tác dụng giáo dục răn đe các bị cáo. Do đó, cấp sơ thẩm áp dụng điều 54 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng là không có căn cứ. Do đó, cần phải tăng mức hình phạt đối với 02 bị cáo.
Đối với bị cáo LVMH thực hiện với vai trò giúp sức, chở các bị cáo đi phạm tội, bị cáo không gây thương tích cho các bị hại và bị xử phạt 04 năm tù (áp dụng mức dưới khung hình phạt là phù hợp với Hnh vi phạm tội của bị cáo, xét nên giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo LVMH.
Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét chấp nhận 01 phần quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát; sửa bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí: Các bị cáo Nha Gia B, ĐHLB, LVMHkhông nộp án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 348, điểm b khoản 1 Điều 355, khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; (viện dẫn điểm a, i khoản 1 điều 134); điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo NGB, ĐHLB, LVMH;
Áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với ĐHLB;
Áp dụng thêm Điều 54 của Bộ luật Hình sự đối với LVMH.
Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo NGB.
2. Chấp nhận 01 phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh KH, sửa bản án sơ thẩm.
Xử phạt: Bị cáo NGB 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội: “ Cố ý gây thương tích”. Thời gian tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18 tháng 11 năm 2022.
Bị cáo ĐHLB 05 (Năm) năm tù về tội: “ Cố ý gây thương tích”. Thời gian tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18 tháng 11 năm 2022.
Bị cáo LVMH04 (Bốn) năm tù về tội: “ Cố ý gây thương tích”. Thời gian tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18 tháng 11 năm 2022.
3. Các bị cáo NGB, ĐHLB, LVMH không phải nộp án phí Hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT 1- TANDTC; - TAND cấp cao tại ĐN - VKSND cấp cao tại ĐN - VKSND tỉnh KH; - Sở Tư pháp tỉnh KH; - TAND TP. NT; - VKSND TP. NT; - Cơ quan điều tra - Công an TP. NT; - Chi cục THADS TP. NT; - Bị cáo; người TGTT; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Xuân Oanh |