vanban.org

Bản án 93

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Bùi Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng: Khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS và Nghị quyết số 41/2017 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội. Xử phạt: Lê Bùi Quốc T 03 (Ba ) năm tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" . Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt giam là ngày 15/8/2017 nhưng được trừ 09 ( Chín ) ngày mà bị cáo T bị tạm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "bị cáo Lê Bùi Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy". - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Bùi Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HẢI CHÂU
TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án 93/2017/HSST
Ngày 26/10/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Ba

- Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Truyền Bình

2. Ông Huỳnh Tiễn

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hải – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

Ngày 26 tháng 10 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 83/2017/HSST ngày 02/10/2017 đối với các bị cáo:

Lê Bùi Quốc T - Sinh ngày 03/2/1994 tại Đà Nẵng - Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ 107, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng - Nghề nghiệp: Lái xe – Trình độ văn hóa: 8/12 - Con ông Lê Văn X (Chết) và bà Bùi Thị L – Gia đình có 03 người con, bị cáo là con thứ ba – Vợ Lê Thị H – Sinh năm: 1997 – Có 01 con sinh năm 2016.

Tiền án, tiền sự: Chưa

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 15/8/2017. Có mặt tại phiên tòa

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Phan T – Sinh năm: 1988 – Trú tại: Thôn Q, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt không lý do.

* Người làm chứng: Ông Nguyễn Đức Tấn T – Sinh năm: 1994 – Trú tại: Tổ 40, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 12/6/2017 tại đầu kiệt số 02 đường 3/2 phường Thuận Phước, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng phát hiện và bắt quả tang Lê Bùi Quốc T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tang vật thu giữ gồm:

+ 01 gói thuốc lá hiệu 555 bên trong có 01 gói nilon màu trắng có kích thước 03cm x 06cm bên trong có chứa 08 (tám) viên nén ,hình tròn màu xanh có ký hiệu “LV” và 02(hai) viên nén hình tròn, màu xanh ký hiệu là “LV” được gói bằng giấy màu xanh ký hiệu A dưới đất nơi Thanh đang đứng.

+ 01 xe mô tô hai bánh, hiệu EXCITER màu xanh trắng BKS: 43K1 – 165.21 số khung RLCE55P10DY306022 số máy 55P1305985.

+ 01 ĐTDĐ có dòng chữ Iphone Imei 35924106215351 có sim số 0905667824.

Vào lúc 02 giờ 30 phút ngày 13/6/2017 Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu đã khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Bùi Quốc T tại tổ 107, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng phát hiện và thu giữ:

+ 02 gói nilon được hàn kín có kích thước 03cm x04cm và 02cm x04cm bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng ký hiệu B.

+ 01 ĐTDĐ có dòng chữ Nokia màu đen Imei1: 354230062736488 và Imei2: 354230062736496 có sim số 0935231872.

+ 01 ĐTDĐ có dòng chữ Iphone màu xanh đen Imei 990002269864466 có sim số 0905667854.

+ 01 ống thủy tinh, 04 gói nilon, 01 kéo và 01 cân điện tử màu đen xám có hiệu Amput.

Toàn bộ vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/9/2017.

Theo kết luận giám định số 370/GĐ-MT ngày 16/6/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng và kết luận giám định số 503/C54C (Đ4) ngày 07/8/2017 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng thuộc Viện khoa học hình sự:

+ Các viên nén hình tròn màu xanh có ký hiệu A được gửi đi giám định có tổng lượng là 3,460gam là ma túy loại MDMA và Methamphetamine.

+ Chất tinh thể rắn màu trắng ký hiệu B được gửi đi giám định có tổng lượng là 0,235gam là ma túy loại Methamphetamine.

MDMA là chất ma túy nằm trong danh mục I, số thứ tự 22 và Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, số thứ tự 67 Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ. Đối tượng gửi hoàn lại giám định mẫu A là 1,747 gam và bao gói vật. Mẫu ký hiệu B đã phân tích hết trong quá trình giám định.

Như vậy tổng trọng lượng ma túy loại MDMA và Methamphetamine thu giữ trong vụ án là 3,695 gam.

Qua điều tra xác định được 23 giờ ngày 12/6/2017 tại đầu kiệt số 02 đường 3/2 phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng phát hiện và bắt quả tang Lê Bùi Quốc T đang tàng trữ 3,460 gam ma túy loại MDMA và Methamphetamine, ngoài ra qua khám xét tại chỗ ở của Lê Bùi Quốc T tại tổ 107, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng tiếp tục thu giữ 0,235 gam ma túy.

Tại phiên tòa bị cáo Lê Bùi Quốc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Bản Cáo trạng số 78/CT - VKS ngày 27/9/2017, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, Tp Đà Nẵng đã truy tố Lê Bùi Quốc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, Tp Đà Nẵng giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo đề nghị HĐXX:

Tuyên bố bị cáo Lê Bùi Quốc T phạm tội: “tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 và Điều 33 BLHS và Nghị quyết số 41/2017 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; Xử phạt bị cáo Lê Bùi Quốc T từ 30 đến 42 tháng tù giam.

Về xử lý vật chứng đề nghị HĐXX áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự và Điều 76 BLTTHS, tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ Toàn bộ các viên nén màu xanh ký hiệu A có trọng lượng là 1,747gam được hoàn trả sau giám định.

+ 01 ống thủy tinh, 04 gói nilon, 01 kéo và 01 cân điện tử màu đen xám có hiệu Amput.

- Tịch thu sung công:

+ 01 ĐTDĐ có dòng chữ Iphone Imei 35924106215351 có sim số 0905667824.

- Trả lại cho bị cáo Thanh:

+ 01 ĐTDĐ có dòng chữ Nokia màu đen Imei1: 354230062736488 và Imei2: 354230062736496 có sim số 0935231872.

+ 01 ĐTDĐ có dòng chữ Iphone màu xanh đen Imei 990002269864466 có sim số 0905667854.

Toàn bộ vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/9/2017.

Đối với 01 xe mô tô hai bánh, hiệu EXCITER màu xanh trắng BKS: 43K1 – 165.21 số khung RLCE55P10DY306022 số máy 55P1305985 Theo lời khai của anh Nguyễn Phan T là bạn của bị cáo Bùi Lê Quốc T thì xe mô tô trên là do anh T mua tại Salon T trên đường Điện Biên P thành phố Đà Nẵng vào năm 2013. Anh T cho bị cáo T mượn xe và không biết việc T tàng trữ ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải Châu đã tiến hành trả lại chiếc xe trên cho anh Nguyễn Phan T, anh T không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không đề cập giải quyết.

Bị cáo Lê Bùi Quốc T nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn về hành vi phạm tội của bị cáo, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hải Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng , người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Lê Bùi Quốc T khai nhận vào khoảng 23 giờ ngày 12/6/2017 tại đầu kiệt số 02 đường 3/2 phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng phát hiện và bắt quả tang Lê Bùi Quốc T đang tàng trữ 3,460 gam ma túy loại MDMA và Methamphetamine, ngoài ra qua khám xét tại chỗ ở của Lê Bùi Quốc T tại tổ 107, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng tiếp tục thu giữ 0,235 gam ma túy Methamphetamine. Tổng cộng lượng ma túy Lê Bùi Quốc T tàng trữ là 3,695gam.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án cũng như quá trình tranh luận tại phiên tòa. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Lê Bùi Quốc T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến quyền quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước, mà còn ảnh hưởng xấu đến đến tình hình trật tự, trị an xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, nên phải xử lý một cách nghiêm khắc.

Về tình tiết định khung hình phạt: Các bị cáo phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy thuộc tình tiết định khung qui định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; đã thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS.

Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX sẽ cân nhắc khi quyết định hình phạt. HĐXX thống nhất với Viện kiểm sát cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo qui định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự qui định: “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản...” . Tuy nhiên, HĐXX xét thấy bị cáo hoàn cảnh gia đình còn khó khăn, không có việc làm ổn định, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự; vật chứng được xử lý như sau:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ Toàn bộ các viên nén màu xanh ký hiệu A có trọng lượng là 1,747gam được hoàn trả sau giám định.

+ 01 ống thủy tinh, 04 gói nilon, 01 kéo và 01 cân điện tử màu đen xám có hiệu Amput.

- Tịch thu sung công:

+ 01 ĐTDĐ có dòng chữ Iphone Imei 35924106215351 có sim số 0905667824.

Tuyên trả lại cho bị cáo Lê Bùi Quốc T

+ 01 ĐTDĐ có dòng chữ Nokia màu đen Imei1: 354230062736488 và Imei2: 354230062736496 có sim số 0935231872.

+ 01 ĐTDĐ có dòng chữ Iphone màu xanh đen Imei 990002269864466 có sim số 0905667854.

Toàn bộ vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/9/2017.

Đối với 01 xe mô tô hai bánh, hiệu EXCITER màu xanh trắng BKS: 43K1 – 165.21 số khung RLCE55P10DY306022 số máy 55P1305985 Theo lời khai của anh Nguyễn Phan T là bạn của bị cáo Lê Bùi Quốc T thì xe mô tô trên là do anh T mua tại Salon T trên đường Điện Biên P thành phố Đà Nẵng vào năm 2013. Anh T cho bị cáo T mượn xe và không biết việc T tàng trữ ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải Châu đã tiến hành trả lại chiếc xe trên cho anh Nguyễn Phan T, anh T không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không đề cập giải quyết.

Án phí HSST: Bị cáo phải chịu 200.000đ.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Bùi Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".

1. Áp dụng: Khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS và Nghị quyết số 41/2017 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội.

Xử phạt: Lê Bùi Quốc T 03 (Ba ) năm tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" . Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt giam là ngày 15/8/2017 nhưng được trừ 09 ( Chín ) ngày mà bị cáo T bị tạm giữ theo các quyết định tạm giữ số 33 ngày 12/6/2017, quyết định gia hạn lần thứ nhất số 24 ngày 15/6/2017 và quyết định gia hạn tạm giữ số 17 ngày 16/6/2017.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ Toàn bộ các viên nén màu xanh ký hiệu A có trọng lượng là 1,747gam được hoàn trả sau giám định.

+ 01 ống thủy tinh, 04 gói nilon, 01 kéo và 01 cân điện tử màu đen xám có hiệu Amput.

- Tịch thu sung công:

+ 01 ĐTDĐ có dòng chữ Iphone Imei 35924106215351 có sim số 0905667824.

Tuyên trả lại cho bị cáo Lê Bùi Quốc T.

+ 01 ĐTDĐ có dòng chữ Nokia màu đen Imei1: 354230062736488 và Imei2: 354230062736496 có sim số 0935231872.

+ 01 ĐTDĐ có dòng chữ Iphone màu xanh đen Imei 990002269864466 có sim số 0905667854.

Toàn bộ vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/9/2017.

3. Án phí HSST: Bị cáo phải chịu 200.000đ.

Án xử công khai, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận trích sao bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ