vanban.org

Bản án 93

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Toµ ¸n nh©n d©n
HUYỆN LẠNG giang
TØnh b¾c giang
B¶n ¸n sè: 93 /2021/HSST
Ngµy 16 th¸ng 11 n¨m 2021
Nh©n danh
N íc céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam
Toµ ¸n nh©n d©n HUYỆN LẠNG giang
Víi thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thu Hà
Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Ngô Thị Mai – Giáo viên nghỉ hưu.
án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
Trần Thị Huệ - Kiểm sát viên.
tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 102/2021/HSST ngày 01
tháng 11 năm 2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2021/QĐ XX
ST- HS ngày 03/11/2021 đối với bị cáo:
ngày 18/8/2004; Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 11 tháng 19
ngày; Đến ngày xét xử 17 tuổi 02 tháng 28 ngày; ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay:
Thôn M, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Họ và tên bố:
đình có 03 anh em bản thân là thứ nhất; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự:
Không có; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp
cấm đi khỏi nơi cư trú. ( Có mặt tại phiên tòa).
Người đại diện hợp pháp của bị cáo:
1. Chị Hà Thị H , sinh năm 1982 ( Có mặt)
2. Anh Dương Văn Th , sinh năm 1977 ( Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Giang.
giúp viên pháp lý thuôc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Giang.
Giang. ( Có mặt).
* Người bị hại: Chị Nguyễn Thị H , sinh năm 1990;
Địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Giang; ( vắng mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Dương Văn Th , sinh năm 1977
Địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt).
Ngày 16 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang,

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dương Văn H, sinh ngày 18/8/2004 và Phạm Văn M, sinh ngày 16/2/2006 đều ở thôn M, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Giang có mối quan hệ họ hàng. Trong tháng 8/2021, H và M đã nhiều lần trộm cắp tài sản của gia đình chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990 ở cùng thôn. Cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Buổi chiều tối ngày 07/8/2021, M đang chơi ở nhà H. H thấy nhà chị H đóng cửa, không có ai ở nhà nên rủ M sang nhà chị H trộm cắp tài sản, M đồng ý, rồi cả hai đi ra phía sau nhà chị H. H sử dụng 01 chiếc thìa inox loại nhỏ dài khoảng 10cm cậy, xoáy ốc vít trên tấm tôn màu xanh ở sườn bên trái phía sau nhà, rồi cả hai dùng tay kéo tấm tôn mạnh một lực làm bung bật tấm tôn ra khỏi khung sắt nối với tường bao. Sau đó, H dùng tay kéo tấm tôn tạo thành một khoảng trống rộng, M chui người qua vào bên trong nhà chị H. H đứng bên ngoài cảnh giới. M đi đến phòng ngủ thấy không khoá cửa nên vào bên trong, thấy tại đầu giường có để 01 chiếc ví da màu đen, bên trong ví có 2.200.000đ. M lấy toàn bộ số tiền rồi đi ra ngoài. H tiếp tục kéo tấm tôn để M chui ra. Số tiền trộm cắp được, H và M cùng nhau chi tiêu hết.

Vụ thứ hai: Buổi chiều tối ngày 12/8/2021, M đang chơi ở nhà H thì thấy nhà chị H đóng cửa, không có ai ở nhà. M rủ H sang nhà chị H trộm cắp tài sản. H đồng ý, cả hai đi ra phía sau nhà chị H. H dùng tay kéo tấm tôn màu xanh ở sườn bên trái phía sau tạo thành một khoảng trống rộng để M chui vào trong. H đứng bên ngoài cảnh giới. M đi đến phòng ngủ thấy khoá cửa nên lấy chiếc tua vít màu vàng để trên máy giặt nhà chị H, vặn, xoáy làm bật tai khoá cửa ra ngoài. M mở cửa vào trong lục, tìm thấy 01 chiếc ví da màu đen tại sườn ngăn tủ quần áo, phía trên bên trái từ ngoài nhìn vào, bên trong ví có số tiền 4.200.000đ. M lấy toàn bộ số tiền rồi đi ra ngoài. H tiếp tục kéo tấm tôn để M chui ra. Số tiền trộm cắp, H và M đã chi tiêu chung hết.

Ngoài ra, qua điều tra, H còn khai nhận: Buổi chiều tối ngày 10/8/2021, M đang chơi ở nhà H thì thấy nhà chị H đóng cửa, không có ai ở nhà. M rủ H sang nhà chị H trộm cắp tài sản, H đồng ý. Sau đó, H và M vẫn sử dụng cách thức như 02 vụ trên trộm cắp được của chị H số tiền 1.850.000đ. H và M sử dụng mua 01 chiếc điện thoại cảm ứng màu đen không rõ nhãn hiệu tại cửa hàng mua bán sửa chữa điện thoại của chị Nguyễn Thị L , sinh năm 1974 ở tổ dân phố V , thị trấn V i, huyện C với giá 800.000đ. Sau đó, M và H đã mang chiếc điện thoại bán cho anh Nguyễn Đức Th , sinh năm 1981 ở thôn Đ, xã Y, huyện C với giá khoảng hơn 300.000đ. M là người trực tiếp giao dịch mua và bán điện thoại. Số tiền bán điện thoại và tiền trộm cắp còn lại, H và M đã chi tiêu chung hết.

Buổi trưa ngày 22/8/2021, M đến nhà H mang theo 01 chiếc tua vít màu xám da cam mục đích rủ H trộm cắp tài sản nhà chị H. M quan sát thấy nhà chị H đóng cửa, không có ai ở nhà nên rủ H trộm cắp tài sản nhà chị H, H đồng ý, rồi cả hai đi ra phía sau nhà chị H. H dùng tay kéo tấm tôn màu xanh ở sườn bên trái phía sau tạo thành một khoảng trống rộng để M chui vào trong. H đứng bên ngoài cảnh giới. Tuy nhiên, lúc này thấy Phạm Văn Tr , sinh ngày 31/8/2008 (em trai M) đi đến nên M chui ra ngoài. H rủ Trường trộm cắp tài sản và bảo Trường kéo tấm tôn để M chui vào trong nhà chị H. Trường đồng ý và dùng tay kéo tấm tôn để M chui vào bên trong nhà chị H. H và Trường đứng bên ngoài cảnh giới. M đi đến phòng ngủ thấy khoá cửa nên sử dụng chiếc tua vít mang theo vặn, xoáy ốc tai khoá cửa phòng làm bật tai khoá cửa ra ngoài. M mở cửa vào trong lục, tìm tài sản trộm cắp thì đúng lúc này chị H đi về nhà phát hiện nên đã trình báo Cơ quan Công an.

Ngày 25/8/2021, chị Hoàng Thị M , sinh năm 1985 (mẹ của M) và anh Dương Văn Th , sinh năm 1977 (bố của H) đã bồi thường cho chị H tổng số tiền là 8.250.000đ. Chị H đã nhận tiền và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Ngày 26/8/2021, Chị Nguyễn Thị H đã giao nộp cho Cơ quan công an các đồ vật, tài sản gồm:

- 01 chiếc ví da màu đen hình chữ nhật, kích thước (13x20)cm có khoá kéo (chiếc ví chị H để tiền bị trộm cắp).

- 01 chiếc tua vít dài 20cm, loại tua vít hai đầu, phần tay cầm dài 11cm màu xám da cam, phần thân tua vít dài 9cm trên có ghi chữ “CHROMEVANADIUM” (chiếc tua vít M mang từ nhà sử dụng vặn mở cửa phòng ngủ chị H để trộm cắp tài sản).

- 01 chiếc tua vít dài 19cm, loại tô vít 4 cạnh, phần tay cầm dài 12cm màu vàng trên có ghi chữ “TUAN ANH”, phần thân tua vít bằng kim loại đã gỉ sét (chiếc tua vít nhà chị H, M sử dụng vặn mở cửa phòng ngủ chị H để trộm cắp tài sản).

Về vật chứng: Toàn bộ vật chứng do chị H giao nộp được Cơ quan điều tra nhập kho vật chứng để giải quyết cùng vụ án.

Đối với Phạm Văn M, khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, M 15 tuổi và thuộc trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng; Công an huyện Lạng Giang đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

Đối với Phạm Văn Tr thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, Tr 13 tuổi, do vậy cơ quan điều tra chỉ nhắc nhở, giáo dục để gia đình và địa phương cùng quản lý.

Đối với Phạm Văn M, khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, M 15 tuổi và thuộc trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng; Công an huyện C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

Đối với Phạm Văn Tr thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, Tr 13 tuổi, do vậy cơ quan điều tra chỉ nhắc nhở, giáo dục để gia đình và địa phương cùng quản lý.

Đối với lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản dưới 2.000.000đ của Dương Văn H, Công an huyện Lạng Giang đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra, anh Nguyễn Đức Th và chị Nguyễn Thị L trình bày do khách hàng mua, bán nhiều nên không xác định được có mua, bán điện thoại với Phạm Văn M hay không. Do vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với chiếc thìa inox loại nhỏ, H sử dụng làm công cụ trộm cắp tài sản, quá trình điều tra H khai đã làm rơi mất và không nhớ được địa điểm, vị trí làm rơi. Do vậy cơ quan điều tra không có căn cứ truy tìm vật chứng.

Tại cơ quan điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

T¹i B¶n C¸o tr¹ng sè: 98/CT- VKS ngµy 31/10/2021 cña ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyện Lạng Giang ®· truy tè Dương Văn H vÒ téi "Trém c¾p tµi s¶n" theo qui ®Þnh t¹i kho¶n 1 §iÒu 173 BLHS;.

T¹i phiªn tßa h«m nay bÞ c¸o khai nhËn toµn bé hµnh vi ph¹m téi cña m×nh nh c¸o tr¹ng ®· truy tè và trình bày: Bị cáo nhận thấy hành vi phạm tội của mình là sai, vi phạm pháp luật. Bị cáo đã nhận ra lỗi lầm, đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện hợp pháp của bị cáo có ý kiến: Quá trình cơ quan điều tra lấy lời khai của H bà có mặt, việc lấy lời khai khách quan, bà không biết H đi trộm cắp, sau khi biết H đi trộm cắp tài sản gia đình bà đã đi bồi thường cho bị hại, đến nay bà không có ý kiến gì về số tiền đã bồi thường hộ H.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo có ý kiến: Đồng ý với việc truy tố của viện kiểm sát, tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần xem xét đến việc bị cáo phạm tội là vị thành niên, nhận thức pháp luật hạn chế, đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo để có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.

Bị hại, người liên quan vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai tại cơ quan điều tra.

Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang giữ quyền công tố tại phiên tòa trình bày bản luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Dương Văn H vµ ®Ò nghÞ Héi ®ång xÐt xö:

1, Tuyªn bè các bÞ c¸o Dương Văn H ph¹m téi “ Trộm cắp tài sản”

2, ¸p dông kho¶n 1 §iÒu 173; ®iÓm b, s kho¶n 1, khoản 2 Điều 51; điều g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xö ph¹t: BÞ c¸o Dương Văn H từ 06 tháng ®Õn 09 th¸ng tï, thời gian tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự không đề nghị giải quyết.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc ví da màu đen hình chữ nhật, kích thước (13x20)cm có khoá kéo (chiếc ví chị H để tiền bị trộm cắp); 01 chiếc tua vít dài 20cm, loại tua vít hai đầu, phần tay cầm dài 11cm màu xám da cam, phần thân tua vít dài 9cm trên có ghi chữ “CHROMEVANADIUM”). 01 chiếc tua vít dài 19cm, loại tô vít 4 cạnh, phần tay cầm dài 12cm màu vàng trên có ghi chữ “TUAN ANH”, phần thân tua vít bằng kim loại đã gỉ sét.

VÒ ¸n phÝ: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự bÞ c¸o ph¶i chÞu ¸n phÝ h×nh sù theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt.

C¨n cø vµo c¸c chøng cø vµ c¸c tµi liÖu ®· ® îc thÈm tra t¹i phiªn toµ. C¨n cø vµo kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn toµ trªn c¬ së xem xÐt ®Çy ®ñ, toµn diÖn chøng cø. ý kiÕn cña KiÓm s¸t viªn, bÞ c¸o, ng êi bÞ h¹i, ng êi cã quyÒn lîi vµ nghÜa vô liªn quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, tình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

. Nội dung vụ án: Trong tháng 8/2021, tại gia đình chị Nguyễn Thị H ở thôn M, xã T, huyện C; Dương Văn H và Phạm Văn M hai lần cùng nhau trộm cắp tài sản là tiền của gia đình chị Nguyễn Thị H, tổng số tiền H và M trộm cắp là 6.400.000đ. Tại phiên toà hôm nay bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại,cũng như vật chứng đã thu hồi được, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra hành vi phạm tội. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là đối tượng lười lao động, bị cáo mới ít tuổi mà đã nhiều lần lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu thực hiện hành vi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền ăn tiêu cá nhân, bị cáo thực hiện hành vi một cách liều lĩnh, chỉ vì lợi ích cá nhân đã lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, xâm phạm trực tiếp đến quyền về tài sản được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng trong nội bộ quần chúng nhân dân.

. XÐt nh©n th©n cña bÞ c¸o th× thÊy:Bị cáo có nhân thân tốt chưa vi phạm pháp luật lần nào.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Tại giai đoạn điều tra và trước phiên toà hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình đã gây ra, sau khi phạm tội, sau khi phạm tội đã tác động đến gia đình để bồi thường cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo qui định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo nhiềulần thực hiện hành vi phạm tội, nên chịu tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Bị cáo H khi phạm tội và khi xét xử đều chưa đủ 18 tuổi, nhận thức pháp luật hạn chế, theo quy định tại Điều 91 Bộ luật hình sự quy định về Nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thì: Việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi khi xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục không có tác dụng dăn đe, phòng ngừa. Bị cáo H tuổi còn trẻ chỉ trong một thời gian ngắn đã thực hiện 04 vụ trộm cắp, bị cáo là người lôi kéo M và Trường đi trộm cắp tài sản, thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo, bị cáo bị áp dụng tình tiết phạm tội nhiều lần, nên phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội như của Đại diện viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên bị cáo sẽ được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên phạm tội tương ứng với thời hạn thích hợp ngắn nhất.

Đối với ý kiến của người bào chữa đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo thì thấy: bị cáo tuổi còn nhỏ nhưng chỉ trong một thời gian ngắn đã thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản, bị có dủ dê lôi kéo M và Trường cùng đi trộm cắp, thể hiện việc coi thường pháp luật nên không thể áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo cho bị cáo.

.Về hình phat bổ sung: Qua xác M tại địa phương bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản, không có thu nhập nên cần miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

.Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được bồi thường nên không có yêu cầu bồi thường nào khác.

. Các nội dung khác:

Đối với Phạm Văn M, khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, M 15 tuổi và thuộc trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng; Công an huyện Lạng Giang đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật. Nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đối với Phạm Văn Tr thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, Tr 13 tuổi, do vậy cơ quan điều tra chỉ nhắc nhở, giáo dục để gia đình và địa phương cùng quản lý.

Đối với lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản dưới 2.000.000đ của Dương Văn H, Công an huyện Lạng Giang đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra, anh Nguyễn Đức Th và chị Nguyễn Thị L trình bày do khách hàng mua, bán nhiều nên không xác định được có mua, bán điện thoại với Phạm Văn M hay không. Do vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với chiếc thìa inox loại nhỏ, H sử dụng làm công cụ trộm cắp tài sản, quá trình điều tra H khai đã làm rơi mất và không nhớ được địa điểm, vị trí làm rơi. Do vậy cơ quan điều tra không có căn cứ truy tìm vật chứng.

.Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc ví da màu đen hình chữ nhật, kích thước (13x20)cm có khoá kéo (chiếc ví chị H để tiền bị trộm cắp); 01 chiếc tua vít dài 20cm, loại tua vít hai đầu, phần tay cầm dài 11cm màu xám da cam, phần thân tua vít dài 9cm trên có ghi chữ “CHROMEVANADIUM”). 01 chiếc tua vít dài 19cm, loại tô vít 4 cạnh, phần tay cầm dài 12cm màu vàng trên có ghi chữ “TUAN ANH”, phần thân tua vít bằng kim loại đã gỉ sét.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

V× c¸c lÏ trªn:

QuyÕt ®Þnh

.¸p dông kho¶n 1 §iÒu 173; điểm b, s kho¶n 1, khoản 2 §iÒu 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; §iÒu 38, Điều 91; Điều 101; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106; Điều 136, §iÒu 331; §iÒu 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

Xử phạt: BÞ c¸o Dương Văn H 06 ( Sáu ) tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”, thời gian tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.

.Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc ví da màu đen hình chữ nhật, kích thước (13x20)cm có khoá kéo (chiếc ví chị H để tiền bị trộm cắp); 01 chiếc tua vít dài 20cm, loại tua vít hai đầu, phần tay cầm dài 11cm màu xám da cam, phần thân tua vít dài 9cm trên có ghi chữ “CHROMEVANADIUM”). 01 chiếc tua vít dài 19cm, loại tô vít 4 cạnh, phần tay cầm dài 12cm màu vàng trên có ghi chữ “TUAN ANH”, phần thân tua vít bằng kim loại đã gỉ sét.

. VÒ ¸n phÝ: BÞ c¸o phải chịu 200.000đồng án phí h×nh sù s¬ thÈm.

. Về quyền kháng cáo: Các bÞ c¸o cã mÆt cã quyÒn kh¸ng c¸o b¶n ¸n trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n.

Ng êi bÞ h¹i, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan v¾ng mÆt cã quyÒn kh¸ng c¸o b¶n ¸n trong h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy nhận được bản án, hoặc niêm yết.

Tr êng hîp b¶n ¸n, quyÕt ®Þnh ® îc thi hµnh theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 2 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù th× ng êi ph¶i thi hµnh ¸n d©n sù cã quyÒn tho¶ thuËn thi hµnh ¸n, quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn thi hµnh ¸n hoÆc bÞ c ìng chÕ thi hµnh ¸n theo quy ®Þnh t¹i c¸c ®iÒu 6, 7a, 7b vµ 9 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù. Thêi hiÖu thi hµnh ¸n d©n sù ® îc thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 30 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù.

T/M - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ