- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Thị Y - chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ (điều 305 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 305 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 93/2026/HS-ST Ngày: 04 - 6 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kỳ Việt.
Các Hội thẩm nhân nhân: Ông Hoàng Văn Bình, ông Đỗ Tiến Hiệt.
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Văn Dũng – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4 - Sơn La.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 4 -Sơn La. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 92/2026/TLST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2026, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2026/QĐXXST – HS ngày 20 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:
Lò Thị Y; tên gọi khác: Không; sinh năm 1977 tại xã M, tỉnh Sơn La; số định danh cá nhân: 014177xxxxxx; nơi cư trú: Bản C, xã M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn N (Đã chết) và bà Lò Thị O, sinh năm 1950; bị cáo có chồng là Cầm Văn K, sinh năm 1976 và có 03 con (Lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2015); tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 07/01/2026 đến ngày 09/01/2026, được thay đổi biện pháp ngăn chặn sang cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 12 giờ 00 phút ngày 07/01/2026, tổ công tác Phòng An ninh Điều tra Công an tỉnh Sơn La phối hợp với Công an xã Mường Chanh làm nhiệm vụ tại khu vực bản Cang Mường, xã Mường Chanh đã phát hiện bắt quả tang Lò Thị Y, sinh năm 1977 (Trú tại bản C , xã M, tỉnh Sơn La) về hành vi tàng trữ trái phép vật liệu nổ.
Vật chứng thu giữ: 10 hộp giấy Carton hình chữ nhật màu xanh, đỏ có chữ nước ngoài (Ở giữa có hình máy bay), bên trong mỗi hộp có 01 vỉ giấy một mặt màu đỏ, một mặt màu trắng, giữa hai mặt giấy có chứa 75 hạt hình tròn (Nghi là kíp nổ dùng để bắn súng kíp, súng săn). Theo Lò Thị Y khai là hạt nổ.
Ngày 07/01/2026, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Sơn La thành lập Hội đồng mở niêm phong, kiểm đếm, lấy mẫu giám định đối với vật chứng thu giữ của Lò Thị Y: Tổng số lượng 10 vỉ = 750 hạt tròn. Lấy 01 vỉ = 75 hạt tròn ký hiệu Y1 làm mẫu gửi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 269/KL-KTHS ngày 08/01/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội: “75 hạt hình tròn bên trong giữa hai mặt của 01 vỉ giấy một mặt màu đỏ, một mặt màu trắng (Ký hiệu Y1) đều là hạt nổ. Hạt nổ thuộc phụ kiện nổ trong nhóm vật liệu nổ. Hạt nổ có tác dụng phát lửa đốt cháy liều thuốc phóng trong các loại đạn tự chế, hiện đều còn sử dụng được.”
Quá trình điều tra Lò Thị Y Khai nhận: Từ năm 2006, Y mở quầy hàng kinh doanh tạp hóa tại nhà (Bản C, xã M, tỉnh Sơn La). Tháng 12/2025 trong một lần đi chợ tại khu vực xã Mường Chanh thì Y gặp một người đàn ông bán hàng dong hỏi có mua hạt nổ dùng cho súng Kíp không? đồng thời cho Y xem các hộp bìa carton hình chữ nhật, bên trong có các vỉ giấy màu trắng, đỏ ở giữa mỗi vỉ có gắn 75 hạt nén hình tròn, màu đen. Y nảy sinh ý định mua về để bán lại sẽ kiếm lời nên đồng ý mua 10 hộp hạt nổ với giá 300.000 VNĐ. Sau khi mua được 10 hộp hạt nổ thì Y mang về giấu dưới tủ kính quầy hàng nếu có người hỏi mua thì bán. Ngày 07/01/2026, tổ công tác Phòng An ninh Điều tra Công an tỉnh Sơn La cùng Công an xã Mường Chanh đến kiểm tra hành chính tại quầy hàng thì Y đã tự nguyện giao nộp vật chứng là 10 hộp hạt nổ nêu trên.
Cáo trạng số: 53/CT – VKS - P1 ngày 07/5/2026 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, đề nghị truy tố bị can Lò Thị Y về tội: Mua bán trái phép vật liệu nổ, theo quy định tại khoản 1 Điều 305 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La giữ quan điểm truy tố bị cáo Lò Thị Y về tội: Mua bán trái phép vật liệu nổ, theo quy định tại khoản 1 Điều 305 Bộ luật hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 305; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Lò Thị Y phạm tội: Mua bán trái phép vật liệu nổ và xử phạt bị cáo mức án từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo. Ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo từ 24 đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho UBND xã Mường Chanh, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 305 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điều 64, 66, 69 và 70 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; Tuyên tịch thu tiêu hủy: 09 vỉ hạt nổ x 75 hạt/vỉ = 675 hạt nổ.
Về án phí: điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Miễn cho bị cáo không phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa bị cáo Lò Thị Y có ý kiến: Thừa nhận ngày 07/01/2026, bị bắt quả tang về hành vi mua, cất giấu trái phép 750 hạt nổ với mục đích bán lại kiếm lời. Nay bị cáo đã biết tội đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc bị cáo thành khẩn khai báo; tự nguyện giao nộp vật chứng; bị cáo có bố, mẹ là người có công với cách mạng mà giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Lò Thị Y khai nhận: Vào tháng 12/2025 trong một lần đi chợ tại khu vực xã Mường Chanh, bị cáo gặp một người đàn ông bán hàng dong hỏi có mua hạt nổ dùng cho súng Kíp không, bị cáo nghĩ nếu mua về bán lại sẽ kiếm được tiền lời nên đồng ý mua của người đó 10 hộp hạt nổ với giá 300.000 VNĐ. Sau khi mua được 10 hộp hạt nổ thì bị cáo mang về giấu dưới tủ kính quầy hàng nếu có người hỏi mua thì bán. Ngày 07/01/2026, tổ công tác Phòng An ninh Điều tra Công an tỉnh Sơn La cùng Công an xã Mường Chanh đến kiểm tra hành chính bị cáo đã tự nguyện giao nộp vật chứng là 10 hộp hạt nổ nêu trên. Hội đồng xét xử xét thấy lời khai của bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ; Kết luận giám định số: 269/KL-KTHS ngày 08/01/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó đã đủ căn cứ kết luận bị cáo Lò Thị Y đã phạm vào tội Mua bán trái phép vật liệu nổ, theo quy định tại khoản 1 Điều 305 Bộ luật hình sự. Như quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Sơn La là có căn cứ, đúng pháp luật.
Điều 305 Bộ luật hình sự quy định: Chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ.
1. Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi tội phạm bị cáo thực hiện xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý vật liệu nổ, gây mất trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự an toàn công cộng. Trong vụ án bị cáo phạm tội với lỗi cố ý và thuộc trường hợp nghiêm trọng. Do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội nhằm trừng trị, răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự bị áp dụng.
- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai nhận tội; tự nguyện giao nộp vật chứng phạm pháp; bị cáo có bố đẻ (Ông Lò Văn Nọi) và mẹ đẻ (Bà Lò Thị Ón) cùng được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì. Nên được xem xét áp dụng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo phạm tội lần đầu; trước phạm tội có nhân thân tốt; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do đó không cần thiết áp dụng hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự.
Đối với hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 305 Bộ luật hình sự. Xét động cơ phạm tội của bị cáo nhằm hưởng lợi về vật chất, tuy nhiên đã bị phát hiện bắt giữ trước khi vật chứng bị tiêu thụ Do đó HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 675 hạt nổ (Số còn lại sau khi trích rút 01 vỉ - 75 hạt nổ gửi giám định) là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo; vật cấm lưu hành. Căn cứ điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điều 64, điều 66, điều 69 và điều 70 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ; để giao Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Sơn La tiêu hủy.
Đối với nguồn gốc 750 hạt nổ theo bị cáo khai do mua của 01 người đàn ông bán hàng dong tại khu vực xã Mường Chanh vào tháng 12/2025. Quá trình điều tra bị cáo không cung cấp được thông tin về tên, tuổi và địa chỉ của đối tượng nên Cơ quan ANĐT không có cơ sở để điều tra xử lý.
Về án phí: Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 305, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Lò Thị Y phạm tội Mua bán trái phép vật liệu nổ.
- Xử phạt bị cáo Lò Thị Y 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án (04/6/2026).
- Giao bị cáo Lò Thị Y cho UBND xã Mường Chanh, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã Mường Chanh giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 15 tháng tù đã cho hưởng án treo.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điều 64, điều 66, điều 69 và điều 70 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ;
- Tuyên tịch thu tiêu hủy: 09 (Chín) hộp catton, mỗi hộp đựng một vỉ giấy một mặt màu đỏ, một mặt màu trắng gắn 75 (Bảy mươi lăm) hạt nổ hình tròn do bị cáo Lò Thị Y giao nộp ngày 07/01/2026.
Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 75/BB-CCTHADS ngày 05/5/2026, giữa Công an tỉnh Sơn La và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Sơn La.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, Phòng hậu cần kỹ thuật – Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Sơn La phối hợp với Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Sơn La tổ chức tiêu hủy số vật chứng trên theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Miễn cho bị cáo không phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Báo cho bị cáo biết quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (04/6/2026).
| Nơi nhận: - Toà án ND tỉnh; - VKSND khu vực 4 (02 bản); - Phòng PV 06 CA tỉnh Sơn La; - Cơ quan ANĐT CA tỉnh Sơn La; - Cơ quan THAHS CA tỉnh Sơn La; - UBND xã Mường Chanh; - Phòng THA dân sự khu vực 4; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, VPTA. | T. M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kỳ Việt |