vanban.org

Bản án 93/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L, cụ thể như sau:

Buộc bà Ngô Trần Quỳnh D phải trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền 107.910.000 đồng (Một trăm lẻ bảy triệu, chín trăm mười nghìn đồng), trong đó nợ gốc 100.000.000 đồng và tiền lãi 7.910.000 đồng. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, người phải thi hành … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh cháp hợp đồng vay tài sản giữa Nguyễn Thị L và Ngô Trần Quỳnh D"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L, cụ thể như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – GIA LAI
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2026/DS-ST
Ngày: 15/7/2026
“V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài
sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Loan Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Bắc

2. Bà Nguyễn Thị Hiên

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hải - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Quỳnh Như - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 104/2026/TLST-DS ngày 02 tháng 3 năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2026/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1984

Địa chỉ: B C, Tổ A H, phường P, tỉnh Gia Lai. Có mặt

- Bị đơn: Bà Ngô Trần Quỳnh D, sinh năm 1984

Địa chỉ: Tổ C, phường A, tỉnh Gia Lai.

Nơi làm việc: Công ty K, số B -B N, phường P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị L thể hiện:

Bà Ngô Trần Quỳnh D là hàng xóm cũng là chỗ chị em quen biết nhau. Vào ngày 17/6/2025 bà có cho bà D vay số tiền 80.000.000 đồng, bà D có viết giấy mượn tiền cho bà, thời hạn trả nợ 01 tháng, lãi suất hai bên thoả thuận. Ngày 07/7/2025 bà có chuyển khoản cho bà D vay số tiền 20.000.000 đồng để đóng học phí cho con. Bà D trả lãi đến tháng 9 năm 2025 thì không trả nữa. Bà đã đòi nợ nhiều lần nhưng bà D không trả. Vì vậy bà khởi kiện yêu cầu bà Ngô Trần Quỳnh D phải trả số tiền gốc còn nợ 100.000.000 đồng và tiền lãi theo lãi suất 1%/tháng từ ngày 01/10/2025. Tuy nhiên tại phiên toà bà L thay đổi yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu tính lãi theo lãi suất 10%/năm từ ngày 01/10/2025 cho đến ngày 15/7/2026 là 7.910.000 đồng, tổng cộng 107.910.000 đồng.

2. Bị đơn bà Ngô Trần Quỳnh D mặc dù đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, nhiều lần Tòa án triệu tập đến hòa giải, triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do nên đã không trình bày được quan điểm của mình về nội dung của vụ án.

3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Gia Lai tham gia phiên tòa có ý kiến phát biểu như sau: Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn không thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, nghe lời trình bày nguyên đơn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Bà Nguyễn Thị L khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Ngô Trần Quỳnh D; Địa chỉ: Tổ C, phường A, tỉnh Gia Lai phải trả số tiền còn nợ. Do đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 26 thì đây là vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Gia Lai theo quy định tại Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn bà Ngô Trần Quỳnh D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hau nhưng vắng mặt. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

Tại phiên toà hôm nay nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà D phải trả tiền lãi 10%/năm. Việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện và không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật dân sự.

. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Bà Nguyễn Thị L yêu cầu bị đơn bà Ngô Trần Quỳnh D phải trả 100.000.000 đồng nợ gốc và trả lãi theo lãi suất 10%/năm từ ngày 01/10/2025 cho đến ngày 15/7/2026. Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ theo Giấy mượn tiền ngày 17/6/2025 và sao kê chuyển khoản ngày 07/7/2025 thể hiện bà D có vay tiền bà L tổng số tiền 100.000.000 đồng, lãi suất hai bên không ghi, hai bên thống nhất thời hạn trả nợ 01 tháng. Vì trong giấy vay tiền không ghi lãi suất, bà L yều cầu tính lãi theo lãi suất 10%./năm từ ngày bà D không trả lãi là ngày 01/10/2025. Hội đồng xét xử xét thấy đây là hợp đồng vay tiền, có thời hạn, có lãi suất. Bà D vi phạm thời hạn trả nợ gốc nên khởi kiện yêu cầu bà D phải trả gốc là có căn cứ. Bà L yêu cầu tính lãi chậm thanh toán từ ngày 01/10/2025 cho đến ngày xét xử hôm nay với lãi suất 10%/năm là có phù hợp theo quy định tại Điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự.

Do đó, Hội đồng xét xử xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L, buộc bà Ngô Trần Quỳnh D phải trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền gốc là 100.000.000 đồng và tiền lãi 7.910.000 đồng, tổng cộng 107.910.000 đồng.

Về án phí: Vì yêu cầu của bà Nguyễn Thị L được chấp nhận nên bà L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bà Ngô Trần Quỳnh D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, khoản 1 Điều 39, 144, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 244, Điều 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 357, 463, 468, 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L, cụ thể như sau:

1. Buộc bà Ngô Trần Quỳnh D phải trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền 107.910.000 đồng (Một trăm lẻ bảy triệu, chín trăm mười nghìn đồng), trong đó nợ gốc 100.000.000 đồng và tiền lãi 7.910.000 đồng.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Án phí: Bà Ngô Trần Quỳnh D phải chịu 5.395.500 đồng (Năm triệu, ba trăm chín mươi lăm nghìn, năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Nguyễn Thị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho bà L số tiền 2.625.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001517 ngày 27/02/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai.

Thời hạn kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (15/7/2026), các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm. Thời hạn trên đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa được tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 8 và 36 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ