vanban.org

Bản án 93/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Huế, TP. Huế Tuyên án 24/11/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Lê Phước Gia L, Nguyễn Đắc L5, Trương Quang Đ1, Vũ Hoàng Hải L3, Hoàng Thành Đ phạm tội “Gây rối trật tự công cộng.

Xử phạt bị cáo Lê Phước Gia L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam (Ngày 11/02/2025). Xử phạt bị cáo Nguyễn Đắc L5 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BAHS Lê Phước Gia Lanh và đồng phạm - Tội gây rối trật tự công cộng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Lê Phước Gia L, Nguyễn Đắc L5, Trương Quang Đ1, Vũ Hoàng Hải L3, Hoàng Thành Đ phạm tội “Gây rối trật tự công cộng.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 – HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2025/HS-ST
Ngày: 24-11-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Lê Phương Thảo và bà Đoàn Thị Thanh Nhàn.

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Huyền Trang - Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Huế tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 79/2025/HSST ngày 01 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Lê Phước Gia L, tên gọi khác: Bo Nhớ, sinh ngày: 17/9/1985 tại thành phố Huế; số căn cước công dân: 046085002245; nơi thường trú: Số 03 đường Đ, phường P, thành phố Huế; chỗ ở hiện nay: Số 238 đường B, phường T, thành phố Huế; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Phước L1 (đã chết) và bà Trần Thị L2; có vợ là: Lê Thị Như Ý và có 02 con; tiền án: có 01 tiền án: Ngày 26/9/2023 bị Toà án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, nay là Toà án nhân dân khu vực 1- Huế xử phạt 01 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” (Bản án số 300/2023/HSST); tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 11/12/2005, bị Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (cũ) xử phạt hành chính 100.000 đồng về hành vi gây rối trật tự công cộng (Quyết định số 68613). Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/02/2025 cho đến nay. Có mặt.

2. Vũ Hoàng Hải L3, tên gọi khác: Ben Tuần, sinh ngày: 17/7/1985 tại thành phố Huế; số căn cước công dân: 046085004140; nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường T, thành phố Huế; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn H và Võ Thị Kim L4; có vợ là: Trần Thị N, và có 01 con; tiền án: Không; tiền sự, có 01 tiền sự: Ngày 04/01/2023, bị Công an thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt hành chính 6.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây tổn hại sức khoẻ người khác” tại Quyết định số 878/2023/QĐ-XPHC, nộp phạt ngày 30/9/2025.

Nhân thân: Ngày 27/10/2003 bị Tòa Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xử phạt 03 năm tù, về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” (Bản án số 950/PT); Ngày 12/7/2007 bị Toà án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 07 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ” (Bản án số 17/2007/HSST); Ngày 04/01/2012 bị Toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, nay là Tòa án nhân dân thành phố Huế xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” (Bản án số 01/2012/HSPT); Ngày 17/01/2019 bị Công an thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt hành chính 2.500.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác (Quyết định số 15474); Ngày 24/12/2019 bị Công an huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý (Quyết định số 812); Ngày 26/02/2020 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, nay là Tòa án nhân dân thành phố Huế xử phạt 07 tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích” (Bản án số 39/2020/HSPT); Ngày 23/12/2021 bị Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt hành chính 3.000.000 đồng về hành vi xâm hại sức khoẻ của người khác (Quyết định số 7368); Ngày 04/01/2023 bị Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt hành chính 6.500.000 đồng về hành vi cố ý gây tổn hại sức khoẻ người khác (Quyết định số 878).

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/02/2025, đến ngày 25/02/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh” cho đến nay. Có mặt.

3. Nguyễn Đắc L5, tên gọi khác: L6, sinh ngày: 10/02/2000 tại thành phố Huế; số căn cước công dân: 04600001216; nơi cư trú: số nhà D Kiệt F đường P, phường T, thành phố Huế; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đắc L7 và bà Trần Thị Thu T; có vợ là: Trần Thị Hồng B và có 01 con; tiền án, có 01 tiền án: Ngày 24/8/2024 bị Toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, nay là Toà án nhân dân thành phố Huế xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích” (Bản án số 82/2024/HSPT); tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/02/2025 cho đến nay. Có mặt.

4. Hoàng Thành Đ, sinh ngày: 20/04/1996 tại thành phố Huế; số căn cước công dân: 046096013674; nơi cư trú: 04 ngõ D kiệt D đường Y, phường P, thành phố Huế; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng T1 và bà Nguyễn Thị T2 (đã chết); vợ, con: chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 21/02/2025, bị Toà án nhân dân quận Thuận Hoá, Thành phố Huế (nay là Toà án nhân dân khu vực 1 - Huế) xử phạt 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (Bản án số 06/2025/HSST). Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/02/2025 cho đến nay. Có mặt.

5. Trương Quang Đ1, tên gọi khác: R, sinh ngày: 21/01/2001 tại thành phố Huế; số chứng minh nhân dân: 191924618; nơi cư trú: Số 1/41 đường T, phường T, thành phố Huế; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Quang H1 và bà Nguyễn Thị N1; vợ, con: chưa có; tiền án, có 01 tiền án: Ngày 12/5/2023 bị Toà án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, nay là Toà án nhân dân khu vực 1 -Huế xử phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích” (Bản án số 131/2023/HSST); tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/02/2025 cho đến nay. Có mặt.

Người làm chứng:

Anh Nguyễn Đắc B1, sinh năm 1996; địa chỉ: Số 107 đường D, phường V, thành phố Huế. Vắng mặt.

Anh Nguyễn Đức H2, sinh năm 1982; địa chỉ: Xóm 3 đường L, phường M, thành phố Huế. Vắng mặt.

Anh Nguyễn Văn L8, sinh năm: 1987; địa chỉ: Số 9/42 đường T, phường T, thành phố Huế. Vắng mặt.

Chị Trần Thị N2, sinh năm 2003; địa chỉ: Số 278 đường K, Tổ dân phố D, phường T, thành phố Huế. Vắng mặt.

Chị Nguyễn Thị Giản Đ2, sinh năm 2001; địa chỉ: Tổ dân phố N, phường M, thành phố Huế. Vắng mặt.

Anh Trần Đại T3, sinh năm 1988; địa chỉ: Tổ dân phố B, phường T, thành phố Huế. Vắng mặt.

Anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 1985; địa chỉ: Số 9/42 đường T, phường T, thành phố Huế. Vắng mặt.

Anh Trần Văn T5, sinh năm 1985; địa chỉ: Số 3/5/281 đường C, phường P, thành phố Huế. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 17 tháng 9 năm 2024, Lê Phước Gia L (Bo nhớ), Nguyễn Đức H2, Trần Văn T5 cùng một số người khác đến nhậu tại quán N3 tại địa chỉ C Đ, phường T, thành phố Huế do Vũ Hoàng Hải L3 làm chủ quán. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Trần Văn T5 sang ngồi tại bàn của Nguyễn Văn L8, Trần Thị N2, Nguyễn Thị Giản Đ2 và Nguyễn Đắc B1 để nói chuyện, trong quá trình ngồi tại đây giữa Tánh và B1 xảy ra mâu thuẫn, có lời qua tiếng lại và được mọi người xung quanh can ngăn. Lúc này, Lê Phước Gia L đi từ phía trong quán đi đến vị trí đang có gây gổ cầm một ly thủy tinh đi về phía bàn của T5 sau đó ném vào đám đông đang can ngăn làm hoảng loạn, T5 và B1 từ đó xảy ra xô xát, một số người lao vào đánh nhau, ném đồ vật xung quanh vào nhau.

Thấy xảy ra xô xát ở quán, Vũ Hoàng Hải L3 đang ngồi cùng với Trần Đại T3 (Quắn) và Nguyễn Văn T4 ở cạnh đó nên đến can ngăn, thì bị một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) trong nhóm xô xát, mặc áo trắng, có dáng người mập, khoảng 35 tuổi, ném ly thủy tinh vào người. Vì tức giận nên L3 đã lao vào tìm và đánh người này.

Khi đó Nguyễn Đắc L5 (Luýt) là nhân viên quán, đến can ngăn, thấy L3 bị đánh nên cũng đã chạy ra, cùng với L3 lao vào, dùng tay đánh người đàn ông đã ném ly thủy tinh vào người L3; L5 dùng một cái ghế ở quán ném vào người này nhưng không trúng. Sau đó, L5 thấy một nam thanh niên mặc áo màu đen, phía trên vai có màu trắng có biểu hiện muốn dùng tay đánh T4 nên L5 đã lao vào đánh ba cái vào vùng mặt và vùng bụng. Trong quá trình đánh nhau, L5 dẫm phải mảnh thủy tinh bể trên đường nên bị thương ở lòng bàn chân. Trương Quang Đ1 (R) là nhân viên của quán tham gia can ngăn, khi thấy một nam thanh niên có biểu hiện muốn đánh T4 nên đã dùng một cái ghế ở quán lao vào đánh L thì L bỏ chạy. Sau đó, Đ1 nhìn thấy L5 đang đánh một người khác nên Đ1 dùng chân đá vào người này. Hoàng Thành Đ là nhân viên thu ngân của quán đến can ngăn, nhìn thấy L3 bị đánh và có người ném ly thủy tinh về phía Đ và có người đánh vào mặt nên Đ bức xúc cũng cầm ghế lao vào đánh nhau và đánh vào một người trong nhóm hỗn loạn nhưng không gây thương tích.

Vụ việc đánh nhau xảy ra tại địa điểm là tuyến đường Đ, đây là khu vực có nhiều quán ăn uống, quán nước giải khát và là nơi nhiều người dân hay tụ tập vui chơi, giải trí và nhiều người dân qua lại. Vũ Hoàng Hải L3, Nguyễn Đắc L5, Trương Quang Đ1, Hoàng Thành Đ, Lê Phước Gia L đã có hành vi dùng ghế và ly thủy tinh là hung khí nguy hiểm để đánh, ném, rượt đuổi, la hét trên đường Đ gây ùn tắc giao thông và ảnh hưởng những người xung quanh vào thời điểm đang diễn ra múa lân (rằm Trung thu) nhiều người dân đang đứng xem, là nơi có nhiều người dân sinh sống, nhiều người điều khiển phương tiện giao thông di chuyển qua lại trên tuyến đường Đào Tấn làm ùn tắc giao thông gây bức xúc, gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến sinh hoạt của nhiều hộ dân xung quanh và các hộ dân kinh doanh, gây lộn xộn ở nơi công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương và gây tổn thất sức khỏe của người khác.

Hậu quả:

- Lê Phước Gia L có vết sẹo vùng định chẩm trái, phải điều trị tại Bệnh viện T6 từ sáng ngày 18/9/2024 đến chiều ngày 18/9/2024 thì ra viện.

- Nguyễn Đắc L5 bị thương tích ở gan bàn chân phải.

Ngày 19/10/2024, Lê Phước Gia L có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Ngày 28/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố H đã có Công văn số 3057/CQĐT-HS đề nghị Ủy ban nhân dân phường T (nay là phường T) và Công an phường T (nay là phường T) cung cấp thông tin vụ việc ngày 17/9/2024 ảnh hưởng như thế nào đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Sau đó, Ủy ban nhân dân phường T và Công an phường T đã có văn bản phúc đáp vụ việc ngày 17/9/2024 với nội dung sự việc trên đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương.

Ngày 17/01/2025, Cơ quan CSĐT Công an quận T, thành phố Huế đã trưng cầu Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh T (nay là thành phố Huế) tiến hành giám định thương tích của Lê Phước Gia L.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 27-25/KLTTCT-GĐPY ngày 21/01/2025, Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh T (nay là thành phố Huế) kết luận:

1. Các kết quả chính:

- Kết quả khám giám định.

+ Vết sẹo vùng đỉnh chẩm trái không ảnh hưởng chức năng:1%.

2. Kết luận:

- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Phước Gia L tại thời điểm giám định là : 1% (một phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

- Vật gây, cơ chế hình thành: Vết thương đỉnh chẩm trái phù hợp do vật tày có cạnh sắc nhọn tác động.

Ngày 17/01/2025, Cơ quan CSĐT Công an quận T, thành phố Huế đã trưng cầu Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh T (nay là thành phố Huế) tiến hành giám định thương tích của Nguyễn Đắc L5.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 26-25/KLTTCT- GĐPY ngày 21/01/2025, Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh T (nay là thành phố Huế) kết luận:

1. Các kết quả chính:

- Kết quả khám giám định.

+ Vết sẹo gan bàn chân phải không ảnh hưởng chức năng: 1%.

2. Kết luận:

- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Đắc L5 tại thời điểm giám định là: 1% (một phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

- Vật gây, cơ chế hình thành: Vết thương gan bàn chân phải phù hợp do vật tày có cạnh sắc nhọn tác động.

Ngày 29/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố H đã trưng cầu Phòng K Công an tỉnh T (nay là thành phố Huế) tiến hành giám định đĩa DVD-R thu giữ.

Tại Kết luận giám định số 836/KL-KTHS ngày 22/01/2025, Phòng K Công an tỉnh T (nay là thành phố Huế) kết luận: 04 (bốn) tệp video lưu giữ trong đĩa CD-R gửi giám định không tìm thấy dấu vết cắt, ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh.

Vật chứng tạm giữ:

- Những mảnh vỡ thủy tinh.

- 01 đĩa CD-R chứa dữ liệu.

Tại bản Cáo trạng số 66/CT-VKS-KV1 ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Huế đã truy tố các bị cáo Lê Phước Gia L, Vũ Hoàng Hải L3, Nguyễn Đắc L5, Trương Quang Đ1, Hoàng Thành Đ về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b Khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Huế giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Phước Gia L.

Xử phạt bị cáo Lê Phước Gia L từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đắc L5.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đắc L5 từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.

Tổng hợp hình phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, tại Bản án số 82/2024/HS-PT ngày 24/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố Huế).

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trương Quang Đ1.

Xử phạt bị cáo Trương Quang Đ1 từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.

Tổng hợp hình phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, tại Bản án số 131/2023/HS-ST ngày 12/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Huế (cũ). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam ngày 11/02/2025, nhưng được trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/11/2022 đến ngày 18/01/2023, tại bản án số 131/2023/HS-ST ngày 12/5/2023.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s, t, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Hoàng Hải L3.

Xử phạt bị cáo Vũ Hoàng Hải L3 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam đi thi hành án, nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giam từ ngày 17/02/2025 đến ngày 25/02/2025.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Thành Đ.

Xử phạt bị cáo Hoàng Thành Đ từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.

Tổng hợp hình phạt 09 (chín) tháng tù tại bản án số 06/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố Huế (cũ). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam ngày 11/02/2025 đối với bản án này, nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giam từ ngày 21/9/2024 đến ngày 29/10/2024 tại bản án số 06/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 .

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ những mảnh vỡ thuỷ tinh; tiếp tục lưu giữ vào hồ sơ 01 đĩa CD-R chứa dữ liệu.

Ý kiến và lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đều thừa nhận hành vi của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Huế đã truy tố. Các bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật. Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Xét hành vi của các bị cáo, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định:

Vào tối ngày 17/9/2024, tại quán N4 địa chỉ số 31 đường Đ, phường T, thành phố Huế, Lê Phước Gia L, Vũ Hoàng Hải L3, Nguyễn Đắc L5, Trương Quang Đ1, Hoàng Thành Đ đã có hành vi dùng ghế, ly thủy tinh là hung khí nguy hiểm để đánh, ném, rượt đuổi, la hét trên đường Đ gây ùn tắc giao thông và ảnh hưởng những người xung quanh, đây là nơi đang diễn ra múa lân (rằm trung thu) nhiều người dân đang đứng xem, là nơi có nhiều người dân sinh sống, nhiều người điều khiển phương tiện giao thông di chuyển qua lại trên tuyến đường thuộc trật tự công cộng. Hành vi của các bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng, trật tự an toàn xã hội tại địa phương và gây tổn hại đến sức khỏe của người khác nên đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Huế đã truy tố.

. Xét căn cứ quyết định hình phạt, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, vi phạm nếp sống văn minh, quy tắc của đời sống xã hội, gây tâm lý hoang mang, trong quân chúng nhân dân, anh hưởng đến sinh hoạt của nhiều hộ dân xung quanh, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương và gây tổn thất sức khỏe của người khác. Đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn, xuất phát từ hành vi bộc phát, không có sự bàn bạc, phân công giữa các bị cáo. Bị cáo Lê Phước Gia L là người cầm ly thủy tinh - là hung khí nguy hiểm, ném vào đám đông là nguyên nhân chính dẫn đến cuộc ẩu đả hỗn loạn và dẫn đến hành vi gây rối trật tự công cộng nên bị cáo phải chịu trách nhiệm chính với vai trò là người thực hành tích cực. Các bị cáo Vũ Hoàng Hải L3, Nguyễn Đắc L5, Trương Quang Đ1, Hoàng Thành Đ đều có hành vi dùng ghế là hung khí nguy hiểm để đánh, ném vào đám đông hỗn loạn. Vì vậy, Vũ Hoàng Hải L3, Nguyễn Đắc L5, Trương Quang Đ1, Hoàng Thành Đ là đồng phạm với vai trò là người thực hành và phải chịu trách nhiệm hình sự tướng xứng với tính chất hành vi của mình.

Các bị cáo L, L5, Đ1, Đ, L3 đều là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi gây rối trật tự công cộng là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi thực hiện tội phạm của các bị cáo là nghiêm trọng.

Đối với bị cáo Lê Phước Gia L, Trương Quang Đ1, Nguyễn Đắc L5 đều có 01 tiền án, chưa được xoá án tích mà lại tiếp tục phạm tội do cố ý nên đã phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; bị cáo Vũ Hoàng Hải L3 không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào nhưng bị cáo có 01 tiền sự và có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xử phạt hành chính và bị xử lý hình sự; bị cáo Hoàng Thành Đ mặc dù không có tiền án, tiền sự nhưng trước đó bị cáo đã bị khởi tố vụ án, bị tạm giam rồi cho tại ngoại, quá trình bị cáo được tại ngoại lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội này.

Do đó cần có mức án nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo đồng thời răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, cần xét cho các bị cáo là quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Vũ Hoàng Hải L3, trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo L3 đã luôn tích cực hợp tác với cơ quan điều tra; bị cáo L3 đã giúp cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện tội phạm khác và được Công an phường A xác nhận có thành tích trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm; bị cáo L3 có nhiều đóng góp cho công tác thiện nguyện, giúp đỡ bà con nghèo có hoàn cảnh khó khăn được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Huế xác nhận, do đó bị cáo L3 được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm t, u khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy bị cáo Vũ Hoàng Hải L3 có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nên cần áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.

Đối với bị cáo Nguyễn Đắc L5 đang trong thời gian chấp hành hình phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm về tội “Cố ý gây thương tích”, tại Bản án số 82/2024/HS-PT ngày 24/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố Huế) và bị cáo Trương Quang Đ1 đang trong thời gian chấp hành hình phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm về tội “Cố ý gây thương tích”, tại Bản án số 131/2023/HS-ST ngày 12/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Huế (cũ) lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới, nên cần áp dụng khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo L5 và Đ1 phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đ1 tại bản án cho hưởng án treo đã bị tạm giữ, tạm giam thời gian từ ngày 23/11/2022 đến ngày 18/01/2023 nên khi tổng hợp hình phạt với bản án này bị cáo sẽ được trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam.

Bị cáo Hoàng Thành Đ đang chấp hành bản án hình sự số 06/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 nay lại bị xét xử về tội trước khi có bản án này nên cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt của hai bản án, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.

. Về xử lý vật chứng: Đối với những mảnh vỡ thuỷ tinh là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng cho việc phạm tội, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ; 01 đĩa CD-R chứa dữ liệu cần tiếp tục lưu giữ vào hồ sơ.

Đối với hành vi đập phá đồ đạc tại quán ZoZo Beer, do không xác định được số lượng tài sản bị thiệt hại do sau khi vụ việc kết thúc chủ quán ZoZo Beer (cũng là chủ sở hữu tài sản - bị cáo Vũ Hoàng Hải L3) đã yêu cầu nhân viện dọn dẹp và chủ sở hữu tài sản không có yêu cầu xử lý, do đó không có căn cứ để xử lý về hành vi hủy hoại tài sản.

Đối với Nguyễn Đắc B1 là người có mâu thuẫn với Trần Văn T5, trước khi xảy ra xô xát, B1 có cầm ghế lên định đánh, nhưng được người nào đó can ngăn nên B1 đi ra phía đối diện quán tìm con của mình rồi đi về nhà. Đối với Trần Văn T5 khi đi qua bàn của B1 giao lưu thì có lời qua tiếng lại sau đó xảy ra đánh nhau có người đánh trúng tay và chân của T5 nhưng T5 không tham gia vào hành vi gây lộn hay đánh nhau. Hành vi nêu trên của Nguyễn Đắc B1 và Trần Văn T5 chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Đối với Nguyễn Đức H2, Nguyễn Văn L8, Trần Thị N2, Nguyễn Thị Giản Đ2 không tham gia đánh nhau nên không có cơ sở để xử lý.

Đối với 02 đối tượng tham gia ném ly thủy tinh, đánh nhau nhằm gây rối trật tự công cộng trong vụ án, qua dữ liệu camera thu giữ được tại thời điểm xảy ra vụ việc, quá trình điều tra, chưa xác định rõ được nhân thân lai lịch. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý theo quy định.

Về án phí: Buộc các bị cáo Lê Phước Gia L, Nguyễn Đắc L5, Trương Quang Đ1, Vũ Hoàng Hải L3, Hoàng Thành Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Lê Phước Gia L, Nguyễn Đắc L5, Trương Quang Đ1, Vũ Hoàng Hải L3, Hoàng Thành Đ phạm tội “Gây rối trật tự công cộng.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Phước Gia L.

Xử phạt bị cáo Lê Phước Gia L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam (Ngày 11/02/2025).

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đắc L5.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đắc L5 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù.

Tổng hợp hình phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, tại Bản án số 82/2024/HS-PT ngày 24/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố Huế), buộc bị cáo Nguyễn Đắc L5 phải chấp hình phạt chung của hai bản án là 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam (Ngày 11/02/2025).

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo bị cáo Trương Quang Đ1.

Xử phạt bị cáo Trương Quang Đ1 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù.

Tổng hợp hình phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, tại Bản án số 131/2023/HS-ST ngày 12/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Huế (cũ), buộc bị cáo Trương Quang Đ1 phải chấp hình phạt chung của hai bản án là 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam ngày 11/02/2025, nhưng được trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/11/2022 đến ngày 18/01/2023, tại bản án số 131/2023/HS-ST ngày 12/5/2023.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s, t, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Hoàng Hải L3.

Xử phạt bị cáo Vũ Hoàng H3 L3 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam đi thi hành án, nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giam từ ngày 17/02/2025 đến ngày 25/02/2025.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Thành Đ.

Xử phạt bị cáo Hoàng Thành Đ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù.

Tổng hợp hình phạt 09 (chín) tháng tù tại bản án số 06/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố Huế (cũ), buộc bị cáo Hoàng Thành Đ phải chấp hình phạt chung của hai bản án là 03 (ba) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam ngày 11/02/2025 đối với bản án này, nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giam từ ngày 21/9/2024 đến ngày 29/10/2024 tại bản án số 06/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 .

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ những mảnh vỡ thuỷ tinh.

Vật chứng trên có đặc điểm như mô tả trong Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 14/11/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Huế.

Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 đĩa CD-R chứa dữ liệu.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Lê Phước Gia L, Nguyễn Đắc L5, Trương Quang Đ1, Vũ Hoàng Hải L3, Hoàng Thành Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Án sơ thẩm xét xử công khai, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ