- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Thị H - Fan Y"
- Tòa quyết gì? Áp dụng Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19 tháng 10 năm 2016 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và Tòa án nhân dân tối cao quy định về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC Quy định v…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ─────────────── Bản án số: 93/2024/HNGĐ-ST Ngày: 22-3-2024 Về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Nở.
Bà Phan Thanh Minh.
- Thư ký phiên tòa:
Bà Hồ Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Ông Hà Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 32/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 793/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2024; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Vũ Thị H, sinh năm 1988; địa chỉ: Số N đường T, Khu phố K, phường M, Quận J, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt (Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Fan Y, sinh năm 1984; quốc tịch: Trung Quốc; địa chỉ: Trung Quốc. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1] Theo các tài liệu có trong hồ sơ, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1.1] Nguyên đơn bà Vũ Thị H trình bày:
Bà và ông Fan Y quen biết nhau vào cuối năm 2015 và tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Sở Nội vụ tỉnh C, Trung Quốc theo Giấy chứng nhận kết hôn số S cấp ngày 22 tháng 02 năm 2016, đã ghi chú kết hôn theo Trích lục ghi chú kết hôn số 116/TLGHKH ngày 17 tháng 11 năm 2022 của Ủy ban nhân dân Quận J, Thành phố Hồ Chí Minh. Vợ chồng bà tổ chức lễ cưới tại Việt Nam vào tháng 5 năm 2016 rồi sang Trung Quốc sinh sống khoảng 01 năm thì trở về Việt Nam. Tuy nhiên, việc kinh doanh thất bại dẫn đến vợ chồng bà xảy ra mâu thuẫn. Khi con chung hơn 01 tuổi bị bệnh nặng, việc chữa trị cho con tốn nhiều thời gian, tiền bạc đã khiến mâu thuẫn giữa vợ chồng bà càng trở nên trầm trọng. Khoảng tháng 4 năm 2018, ông Fan Y trở về Trung Quốc sinh sống, làm việc, vợ chồng bà ít khi liên hệ với nhau, ông Fan Y không hỗ trợ bà trong việc nuôi dưỡng con chung. Từ năm 2019 vợ chồng bà sống ly thân và dần ít liên hệ với nhau cho đến nay. Bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn ông Fan Y. Về con chung: Giữa bà và ông Fan Y có 01 con chung là trẻ Fan Gia V, sinh ngày 25 tháng 01 năm 2017, giới tính: Nam hiện đang sống cùng bà. Bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, không yêu cầu ông Fan Y cấp dưỡng cho con. Về tài sản chung, nợ chung: Giữa bà và ông Fan Y không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề tài sản. [1.2] Đối với bị đơn ông Fan Y: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo thời gian và địa điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án thông qua thủ tục ủy thác tư pháp đến Cơ quan có thẩm quyền của Trung Quốc, theo địa chỉ của bị đơn do nguyên đơn cung cấp. Đồng thời, yêu cầu ông Fan Y có văn bản gửi Tòa án trình bày ý kiến về việc bà Vũ Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn (theo Công văn ủy thác tư pháp số 267/UTTPDS-TA30 ngày 25 tháng 4 năm 2023). Đến ngày mở phiên tòa như đã định tại thông báo gửi đương sự, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không nhận được văn bản thông báo về kết quả tống đạt cũng như bản tự khai, tài liệu, chứng cứ của bị đơn và bị đơn vắng mặt, không có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Để đảm bảo việc giải quyết vụ án theo đúng thời hạn luật định và bảo đảm quyền lợi của đương sự khác, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. [2] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân thủ pháp luật tố tụng dân sự trong việc giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm có nêu: Thẩm phán, các thành viên Hội đồng xét xử sơ thẩm, đương sự trong vụ án đã thực hiện đầy đủ quy định pháp luật về tố tụng dân sự; quan hệ tranh chấp của vụ án đã được xác định đúng, chứng cứ được thu thập hợp lệ; vụ án có yếu tố nước ngoài, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền; thủ tục ủy thác tư pháp đã được tiến hành hợp lệ. Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa đã có văn bản trình bày ý kiến giao nộp cho Tòa án và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt không có lời khai, tài liệu, chứng cứ, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án giải quyết vụ án theo luật định. Đề xuất về đường lối giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết cho ly hôn, giao con chung cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng cho con. Về tài sản chung, nợ chung nguyên đơn xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra chứng cứ công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn, giấy chứng nhận kết hôn; căn cứ lời trình bày của nguyên đơn tại bản tự khai, có cơ sở để xác định đây là vụ án về ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Bị đơn trong vụ án là ông Fan Y hiện đang cư trú tại Trung Quốc; nguyên đơn bà Vũ Thị H cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Khoản 3 Điều 35, Khoản 1 Điều 37, Điểm c Khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Trước khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, nguyên đơn đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét, yêu cầu và ý kiến của các đương sự đã được thể hiện rõ trong bản khai, sự vắng mặt của các bên đương sự không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 và 3 Điều 228, Điểm c Khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử sơ thẩm quyết định xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân:
Căn cứ đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn; Giấy chứng nhận kết hôn số S do Sở Nội vụ tỉnh C, Trung Quốc cấp ngày 22 tháng 02 năm 2016 và đã ghi chú kết hôn theo Trích lục ghi chú kết hôn số 116/TLGHKH ngày 17 tháng 11 năm 2022 của Ủy ban nhân dân Quận J, Thành phố Hồ Chí Minh, có cơ sở để xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Vũ Thị H và ông Fan Y là hợp pháp.
Theo trình bày của nguyên đơn bà Vũ Thị H thì sau khi kết hôn vợ chồng xảy ra mâu thuẫn chủ yếu do vấn đề về kinh tế gia đình và việc chăm sóc con chung. Từ tháng 4 năm 2018, ông Fan Y trở về Trung Quốc thì vợ chồng bà sống ly thân và không còn thường xuyên liên hệ với nhau, ông Fan Y không hỗ trợ bà trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Do mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể hàn gắn đoàn tụ, bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn ông Fan Y.
Hội đồng xét xử xét thấy: Giữa nguyên đơn và bị đơn đã mâu thuẫn trong thời gian dài, không còn sự quan tâm, chia sẻ trong cuộc sống hôn nhân, không còn cùng nhau thực hiện nghĩa vụ của cha mẹ trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là đã không còn tình nghĩa vợ chồng. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn là có cơ sở. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết cho bà Vũ Thị H được ly hôn ông Fan Y như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa. [3] Về con chung: Giữa bà Vũ Thị H và ông Fan Y có 01 con chung là trẻ Fan Gia V, sinh ngày 25 tháng 01 năm 2017, nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Fan Y cấp dưỡng cho con. Xét, con chung hiện đang do bà H nuôi dưỡng và có nguyện vọng được ở cùng mẹ, để ổn định cuộc sống hiện tại và vì quyền lợi về mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao con chung cho bà Vũ Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà H là người được giao quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung không yêu cầu ông Fan Y cấp dưỡng cho con là tự nguyện nên Hội đồng xét xử ghi nhận. [4] Về quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng: Nguyên đơn trình bày giữa bà và ông Fan Y không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét. [5] Về án phí dân sự sơ thẩm; lệ phí, chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và lệ phí, chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Khoản 3 Điều 35, Khoản 1 Điều 37, Điểm c Khoản 1 Điều 40, Điều 147, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 và 3 Điều 228, Điều 237, Điểm c Khoản 5 Điều 477, Khoản 3 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng Khoản 1 Điều 56; các điều 81, 82, 83, 84, 85, 107, 110, 116, 121, 122 và 127 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Áp dụng Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19 tháng 10 năm 2016 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và Tòa án nhân dân tối cao quy định về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự;
- Áp dụng Luật Thi hành án dân sự. I. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Vũ Thị H: 1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị H được ly hôn với ông Fan Y. Giấy chứng nhận kết hôn số S do Sở Nội vụ tỉnh C, Trung Quốc cấp ngày 22 tháng 02 năm 2016, ghi chú kết hôn theo Trích lục ghi chú kết hôn số 116/TLGHKH ngày 17 tháng 11 năm 2022 của Ủy ban nhân dân Quận J, Thành phố Hồ Chí Minh không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung: Giữa bà Vũ Thị H và ông Fan Y có 01 con chung là trẻ Fan Gia V, sinh ngày 25 tháng 01 năm 2017. Giao trẻ Fan Gia V cho nguyên đơn bà Vũ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận việc nguyên đơn không yêu cầu Tòa án buộc bị đơn cấp dưỡng cho con.
Không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Nguyên đơn trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
II. Án phí dân sự sơ thẩm; lệ phí, chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài:
Nguyên đơn bà Vũ Thị H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đương sự đã nộp theo biên lai thu số A ngày 30 tháng 01 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, đương sự đã thi hành xong án phí sơ thẩm.
Nguyên đơn bà Vũ Thị H phải chịu lệ phí ủy thác tư pháp và chi phí thực tế thực hiện ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật.
III. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Vũ Thị H có quyền kháng cáo để được xem xét lại vụ án theo trình tự phúc thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Tòa án xét xử vắng mặt đối với bị đơn ông Fan Y theo quy định tại Điểm c Khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên thời hạn kháng cáo của bị đơn là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được áp dụng theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND cấp cao tại Tp. HCM; - VKSND cấp cao tại Tp. HCM - VKSND Tp. HCM; - Cục THADS Tp. HCM; - UBND Quận J, Tp. HCM; - Các đương sự; - Lưu: VP, HS. (TC17) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Tuấn |