vanban.org

Bản án 93/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị G.

Về hôn nhân: bà Nguyễn Thị G được ly hôn với ông Nguyễn Văn X. Về nuôi con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị G được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Minh C1, sinh ngày 29/6/2007 và Nguyễn Văn H, sinh ngày 20/10/2009; ông Nguyễn Văn X không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn và nuôi con khi ly hôn (Giàu - Xậy)"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị G.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TỊNH BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 93/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 04-9-2024
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia
đình ly hôn và nuôi con khi ly
hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: bà Võ Thị Ngọc Mỹ.

- Các Hội thẩm nhân dân: ông Múth So Ny; bà Lương Thị Hoàng Kim.

Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Cẩm Tiên, là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: ông Đặng Phương Nam, Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 206/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 168/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1983; nơi cư trú: tổ C, ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1979; nơi cư trú: 7ổ A, khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang, vắng mặt.

Tại phiên toà, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Giàu C đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn ông Nguyễn Văn X vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị G trình bày: bà Nguyễn Thị G và ông Nguyễn Văn X do quen biết tự tìm hiểu, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh An Giang theo số 98, ngày 17/8/2007. Sau khi kết hôn thì bà Nguyễn Thị G và ông Nguyễn Văn X sinh sống tại tổ A, khóm X, phường T, tỉnh An Giang.

Thời gian chung sống giữa vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm về lối sống và tính tình không hợp nhau. Nguyên nhân là do bà Nguyễn Thị G cho người khác vay nợ không được sự đồng ý của ông Nguyễn Văn X nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, có khi ông Nguyễn Văn X cũng dùng vũ lực với bà Nguyễn Thị G. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 02/2022 cho đến nay, nên bà Nguyễn Thị G yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn X.

Bà Nguyễn Thị G và ông Nguyễn Văn X có 03 (ba) con chung tên Nguyễn Thị Mỹ D, sinh ngày 10/4/2003; Nguyễn Minh C1, sinh ngày 29/6/2007 và Nguyễn Văn H, sinh ngày 20/10/2009. Hiện cháu Nguyễn Thị Mỹ D đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi ly hôn, bà Nguyễn Thị G yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Minh C1 và Nguyễn Văn H; không yêu cầu ông Nguyễn Văn X cấp dưỡng nuôi con chung; không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về tài sản chung và nợ chung.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện bao gồm: Căn cước công dân cấp cho Nguyễn Minh C1, Nguyễn Thị Mỹ D, Nguyễn Văn X (bản photo); Chứng minh nhân dân cấp cho bà Nguyễn Thị G (bản photo); Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình số 21/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 19/3/2024 (bản photo); Giấy khai sinh cấp cho Nguyễn Minh C1, Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị Mỹ D (bản sao); Trích lục kết hôn (bản sao); Bản tự khai (bản chính).

- Bị đơn ông Nguyễn Văn X: Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa,

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Việc tuân theo pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

- Về thẩm quyền: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị G khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Văn X, có nơi cư trú tại Tổ A, khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về sự vắng mặt của đương sự: bà Nguyễn Thị Giàu C đơn xin xét xử vắng mặt; ông Nguyễn Văn X đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, không lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân: bà Nguyễn Thị G và ông Nguyễn Văn X chung sống với nhau từ năm 2007, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 98, ngày 17/8/2007 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh An Giang nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.”

Xét, vợ chồng phải thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau nhưng bà Nguyễn Thị G và ông Nguyễn Văn X đã không còn sống chung và không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Văn X nhưng ông Nguyễn Văn X không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị G. Từ đó, cho thấy mâu thuẫn gia đình đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì nguyên đơn khởi kiện ly hôn với bị đơn là có căn cứ chấp nhận.

Về con chung: bà Nguyễn Thị G xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh 03 (ba) con chung tên Nguyễn Thị Mỹ D, sinh ngày 10/4/2003, Nguyễn Minh C1, sinh ngày 29/6/2007 và Nguyễn Văn H, sinh ngày 20/10/2009. Hiện cháu Nguyễn Thị Mỹ D đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà Nguyễn Thị G yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Minh C1 và cháu Nguyễn Văn H.

Xét thấy, hiện nay cháu Nguyễn Minh C1 và cháu Nguyễn Văn H do bà Nguyễn Thị G nuôi dưỡng; cháu Nguyễn Minh C1 và cháu Nguyễn Văn H có nguyện vọng được sống cùng với mẹ. Do đó tiếp tục giao các cháu C1 và H cho bà Nguyễn Thị G nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: bà Nguyễn Thị G không có yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: bà Nguyễn Thị G không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo luật định; bị đơn không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 144, 147, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị G.

1. Về hôn nhân: bà Nguyễn Thị G được ly hôn với ông Nguyễn Văn X.

2. Về nuôi con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị G được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Minh C1, sinh ngày 29/6/2007 và Nguyễn Văn H, sinh ngày 20/10/2009; ông Nguyễn Văn X không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Nguyễn Thị G cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông Nguyễn Văn X quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

3. Về án phí sơ thẩm: bà Nguyễn Thị G phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình, được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0011005 ngày 04/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên; bà Nguyễn Thị G đã nộp đủ án phí; ông Nguyễn Văn X không phải chịu án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo vắng mặt trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ