vanban.org

Bản án 93/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 12/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ PHÚ MỸ
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2023/HS-ST
Ngày 12-7-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Trà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Đăng

Bà Trần Thị Hậu

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Ông Lê Nguyễn Trường Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 93/2023/HSST ngày 02 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2023/QĐXXST- HS ngày 29 tháng 6 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguỵ Như P, sinh năm 1986 tại Bà Rịa-Vũng Tàu; nơi đăng ký HKTT: Khu phố T, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: đạo Phật; quốc tịch:Việt Nam; con ông Nguỵ Như H và bà Nguyễn Thị Kim O; Tiền sự: Không; Tiền án: 03

Bản án số 34/HSST ngày 22-7-2005 bị TAND huyện Tân Thành (nay là thị xã Phú Mỹ), tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

Bản án số 56/HSST ngày 19-6-2007 bị TAND huyện Tân Thành (nay là thị xã Phú Mỹ), tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản.

Bản án số 78/HSST ngày 30-7-2009 bị TAND thị xã Bà Rịa (nay là thành phố Bà Rịa), tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội Cướp giật tài sản.

Nhân thân:

Bản án số 72/HSST ngày 12-8-2014 bị TAND thị xã Bà Rịa (nay là thành phố Bà Rịa), tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xử phạt 5 năm tù về tội Cướp giật tài sản.

Bị cáo bị bắt tạm giam 22-12-2022. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Phú Mỹ (có mặt).

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1991; địa chỉ: Ấp X, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt)

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: ông Trần Tuấn A, sinh năm 1985; địa chỉ: X đường Đ, khu phố Q, phường P, thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt).

- Người làm chứng: ông Nguỵ Như T, sinh năm 1987; địa chỉ: Khu phố T, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngụy Như P là người nghiện ma túy nên khoảng 10 giờ ngày 18/12/2022 P gọi điện nhờ Ngụy Như T, chở P đi mua ma túy, T đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe mô tô hiệu Honda Click màu đỏ, BKS: 72X2-9585 chở P đi đến xã Tân Hòa, thị xã Phú Mỹ mua chịu ma túy nhưng người bán không đồng ý. Lúc này, P rủ T chở P đi lòng vòng tìm kiếm tài sản để trộm cắp bán lấy tiền mua ma túy nhưng T không đồng ý nên P nói T cứ chở P đi theo chỉ dẫn của P. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày khi T chở P đi qua dãy nhà trọ của chị Nguyễn Thị L, ở ấp X, xã T, thị xã P, tỉnh BR-VT, thì P nảy sinh ý định đi vào phòng chị L để chiếm đoạt tài sản. P nói T dừng lại, T có hỏi P dừng lại làm gì thì P nói để vào mua ma túy và bảo T cứ chạy lên một đoạn đứng chờ P, khi nào P gọi thì quay lại đón. P đi bộ lại phòng trọ của chị L thì thấy chị L đang nằm trong phòng cùng 02 con nhỏ nên đã lấy 01 con dao thái lan dài khoảng 18cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 10cm, cán dao bằng nhựa màu cam dài 08cm mang theo trước đó tiến lại gần chĩa thẳng về phía chị L đe dọa và yêu cầu chị L đưa tiền và điện thoại cho P. Sợ P sẽ tấn công mình với 02 con nhỏ nên chị L đã lấy 260.000 đồng và 01 điện thoại hiệu Samsung J6 màu xanh dương đưa cho P. Sau khi lấy được tài sản, P chạy ra ngoài gọi T chở P về khu phố T, phường P, còn T đi về nhà. Đến chiều cùng ngày P mang chiếc điện thoại di động của chị L đến tiệm điện thoại B cầm cho anh Trần Tuấn A, được 700.000 đồng, số tiền có được P mua ma túy sử dụng hết.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 113/KL ngày 12/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thị xã Phú Mỹ kết luận: 01 điện thoại di động hiệu SamSung J6 trị giá 900.000đ (chín trăm nghìn đồng) (BL: 40).

* Về vật chứng:

Đối với 01 con dao thái lan dài khoảng 18cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 10cm có vỏ dao bọc bên ngoài, cán dao bằng nhựa màu cam dài 08cm Cơ quan CSĐT Công an thị xã Phú Mỹ thu giữ của Ngụy Như P đã chuyển đến Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Phú Mỹ bảo quản chờ xử lý.

* Về dân sự: Chị Nguyễn Thị L, anh Trần Tuấn A không yêu cầu Ngụy Như P phải bồi thường về trách nhiệm dân sự

Bản cáo trạng số 86/CT-VKS ngày 19-5-2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu truy tố Nguỵ Như P về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Quan điểm luận tội của Kiểm sát viên:

Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi, đặc điểm nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo đồng thời đề nghị:

Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguỵ Như P phạm tội “Cướp tài sản”.

Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguỵ Như P mức án từ 09 năm đến 10 năm tù.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Lời khai của bị cáo: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đồng thời thừa nhận bị Viện kiểm sát truy tố về tội “Cướp tài sản” là đúng. Bị cáo không có ý bào chữa mà chỉ đề nghị được xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra thị xã Phú Mỹ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng

Tại phiên tòa, bị cáo tại tòa đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các đương sự khác, phù hợp với biên bản tạm giữ vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập trong hồ sơ vụ án và thẩm tra lại tại phiên tòa. Từ đó đủ cơ sở xác định được:

Khoảng 11 giờ 30 ngày 18 tháng 12 năm 2022, tại ấp X, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Nguỵ Như P đã dùng một con dao Thái Lan dài khoảng 18cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 10cm, cán dao bằng nhựa màu cam dài 8cm đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc làm chị Nguyễn Thị L hoảng sợ rồi cướp một điện thoại di động hiệu Samsung J6 trị giá 900.000 đồng và số tiền 260.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà P đã chiếm đoạt của chị L là 1.160.000 đồng.

Bị cáo đã bốn lần bị xử phạt tù. Bản án số 78/HSST ngày 30-7-2009 bị TAND thị xã Bà Rịa (nay là thành phố Bà Rịa), tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội Cướp giật tài sản. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 06-9-2013, phần nghĩa vụ bồi thường bị cáo chưa chấp hành do cơ quan thi hành án không nhận được đơn yêu cầu thi hành án của bị hại.

Tuy nhiên, Điều 70 Bộ luật hình sự quy định về điều kiện xoá án tích “Người bị kết án nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án. Như vậy bộ luật hình sự không quy định trường hợp loại trừ việc người bị kết án chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án với bất kỳ lý do gì. Hơn nữa pháp luật thi hành án dân sự quy định nhiều phương thức thi hành án để người phải thi hành án có quyền lựa chọn như tự nguyện thi hành án, thoả thuận thi hành án hoặc nhờ người thân nộp thay. Do vậy, trường hợp người bị kết án không nhận được thông báo thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự nên chưa thi hành các quyết định khác của bản án là chưa chấp hành xong bản án. Trường hợp này người bị kết án không đương nhiên bị xoá án tích theo Điều 70 Bộ luật hình sự.

Do đó, đủ cơ sở kết luận hành vi bị cáo Nguỵ Như P thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” với tình tiết định khung tăng nặng “Sử dụng phương tiện nguy hiểm” và “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm d, h khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự.

Như vậy, cáo trạng số 86/CT-VKS ngày 19-5-2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu truy tố bị cáo là đúng.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội

Bị cáo là công dân đã trưởng thành, nhận thức rõ hành vi cướp tài sản vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo bất chấp quy định của pháp luật, cố ý thực hiện hành vi dùng dao Thái Lan dài 18cm là vũ khí thô sơ, phương tiện nguy hiểm chỉ thẳng vào mặt bị hại, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc làm bị hại hoảng sợ giao tài sản cho bị cáo chiếm đoạt để phục vụ nhu cầu bản thân. Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo với phương tiện nguy hiểm là nguy cơ dẫn đến mất an toàn về sức khoẻ, tính mạng của bị hại. Ngoài ra hành vi của bị cáo còn làm ảnh hưởng xấu trật tự an ninh tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu đã 04 lần bị phạt tù nhưng không lấy đó làm bài học cảnh tỉnh bản thân lại tiếp tục phạm tội mới. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tương ứng với hành vi phạm tội, tương ứng với đặc điểm nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại chị Nguyễn Thị L đã nhận lại chiếc điện thoại và không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 260.000 đồng và anh Trần Tuấn A không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 700.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu là đúng quy định.

Đối với 01 con Dao Thái Lan đã cũ dài khoảng 18cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài khoảng 10cm có vỏ bọc bên ngoài, cán dao bằng nhựa màu cam dài 8cm là phương tiện, công cụ bị cáo dùng để phạm tội không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.

Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: bị cáo Nguỵ Như P phạm tội “Cướp tài sản”.

Áp dụng điểm d, h khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt Nguỵ Như P 09 (chín) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22-12-2022.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ 01 con Dao Thái Lan đã cũ dài khoảng 18cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài khoảng 10cm có vỏ bọc bên ngoài, cán dao bằng nhựa màu cam dài 8cm

(Toàn bộ số vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 108/BB-CCTHADS ngày 07-7-2023).

4. Án phí: Bị cáo Nguỵ Như P phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Đối với người vắng mặt tại phiên tòa thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ