vanban.org

Bản án 93/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Huế, TP. Huế Tuyên án 11/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn Ng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn Ng 09 (chín) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 14/11/2022. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Văn Ng - TCTS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn Ng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HUẾ
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2023/HS-ST
Ngày: 11/4/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Vỵ;

2. Bà Trần Thị Thanh Xuân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Nữ Như Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 55/2023/HSST ngày 27 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Huỳnh Văn Ng, sinh ngày 03/10/1993 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 11/127 Đ H T, phường P V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi ở hiện nay: 18/2/42 Đ T, phường P V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo; con ông Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1965 và bà Trần Thị H, sinh năm 1967; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Có 01 tiền án: Ngày 19/02/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố H xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 23/2020/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/4/2022.

Quá trình nhân thân: Từ nhỏ sống với gia đình tại phường P V, thành phố H, lớn lên học văn hóa đến lớp 9 thì nghỉ học học ở nhà phụ giúp gia đình.

- Ngày 15/5/2011, bị Công an phường P V, thành phố H xử phạt hành chính, phạt tiền: 750.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 26/4/2012, bị Công an thành phố H xử phạt hành chính, phạt tiền: 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Ngày 19/9/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố H xử phạt 06 (sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (Bản án số 237/2013/HSST).

- Ngày 18/10/2019, bị Công an phường P V, thành phố H xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 06/01/2023, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H T khởi tố bị can về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 02 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/11/2022 cho đến nay. Có mặt.

* Bị hại: Anh Bùi Văn H, sinh năm 1967.

Địa chỉ: 3B/183 N L T, phường X P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.

* Người làm chứng:

1. Anh Lê Văn L, sinh năm 1994.

Địa chỉ: 25 C L V, phường T A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.

2. Chị Lê Thị Oanh K, sinh năm 1993.

Địa chỉ: 46 H Đ D, phường A C, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ 00 ngày 28 tháng 8 năm 2022, anh Bùi Văn H (sinh ngày 20/10/1985, nơi cư trú: 3B/183 N L T, phường X P, thành phố H) đến để lắp đặt ca – me - ra tại đường N H B, thành phố H. Khi đến nơi, anh H để nhờ túi xách bằng vải màu xám, kích thước (10 x 20cm), bên trong có 01 dao cắt sợi quang V7 của hãng INNO/KOREA màu nâu vàng trên bàn đá trước quán tạp hóa số nhà 23 N H B, phường A C, thành phố H rồi đi bộ đến cột điện tại ngã ba đường N H B và đường N H Đ cách nơi để túi xách là 22m để kiểm tra đường dây in – tơ - nét.

Vào khoảng 17 giờ 15 phút cùng ngày, Lê Văn L (sinh năm 1993, nơi cư trú: 25A C L V, Phường T A, thành phố H) điều khiển xe mô tô loại Jupiter, xe mang biển số: 75K8-9613 (xe của anh L Q K là anh trai của Lê Văn L), màu đỏ - đen - xám chở Huỳnh Văn Ng rồi cùng nhau góp tiền đến đường H Đ D, phường A C, thành phố H mua ma túy rồi sử dụng. Trên đường đi về nhà, khi đi đến quán tạp hóa địa chỉ số 23 N H B, phường A C, thành phố H, L dừng xe để cho Ng vào quán mua thuốc lá. Ng vào mua thuốc lá, phát hiện trên bàn đá có 01 túi xách, Ng chỉ tay vào túi xách với ý định muốn trộm cắp túi xách, nhưng L không đồng ý và lắc đầu. L ngăn cản và nói “Thôi đừng lấy nữa” nhưng Ng tiếp tục đi đến bàn đá rồi lấy túi xách bước ra ngoài ngồi lên xe L. Cùng lúc đó, người dân phát hiện và truy hô “Trộm, trộm” vì sợ bị đánh nên L điều khiển xe chở Ng bỏ chạy đến trước tường rào của Khoa Giáo dục thể chất, Trường Đại học H thì dừng lại. L yêu cầu Ng xuống xe và tự đi bộ đến quán tạp hóa để trả túi xách mới lấy trộm, còn L điều khiển xe rời đi thì Ng ném túi xách vào bụi cây trên đường H Đ D, thành phố H rồi đi bộ về nhà.

Sau khi mất túi xách anh H đã trình báo sự việc cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H.

Đến sáng ngày 01/9/2022, sau khi được triệu tập đến làm việc tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Ng đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình.

* Vật chứng thu giữ: Không.

* Về trách nhiệm dân sự: Anh Bùi Văn H đã nhận lại số tiền 1.250.000 đồng từ Huỳnh Văn Ng, không yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại bản Cáo trạng số 75/CT-VKSTPH ngày 27/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Huỳnh Văn Ng về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H giữ nguyên truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn Ng phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Văn Ng từ 06 đến 09 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu, nên đề nghị không xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Huỳnh Văn Ng phải chịu theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 28/8/2022, tại quán tạp hóa địa chỉ số 23 N H B, phường A C, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, Huỳnh Văn Ng đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh Bùi Văn H 01 túi xách, bên trong có 01 dao cắt sợi quang của hãng INNO/KOREA, qua định giá tài sản bị chiếm đoạt có tổng giá trị: 1.250.000 đồng. Ngày 19/02/2020, Huỳnh Văn Ng bị Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 23/4/2022, chưa được xóa án tích, nhưng tiếp tục trộm cắp tài sản nêu trên. Do đó, Viện kiểm nhân dân thành phố H truy tố bị cáo Huỳnh Văn Ng về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo Huỳnh Văn Ng là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng do muốn có tiền tiêu xài, bị cáo đã có hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có quá trình nhân thân xấu, nhưng không chịu tu dưỡng rèn luyện mà lại tiếp tục phạm tội. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức phạt thích đáng tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là đã bồi thường thiệt hại, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, thành khẩn khai báo, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là đúng theo quy định của pháp luật.

Trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Huỳnh Văn Ng phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn Ng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173, điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn Ng 09 (chín) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 14/11/2022.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

- Bị cáo Huỳnh Văn Ng phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

4. Án sơ thẩm xét xử công khai, bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ