vanban.org

Bản án 93/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 12/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Tuấn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Tuấn A 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/11/2022. Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm ngàn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Tuấn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Thi hành tạm giữ
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
TH NH H H CH M NH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2023/HS-ST
Ngày: 12/05/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÕA XÃ HỘ CHỦ NGHĨA V ỆT NAM

TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Phương Nam

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Huỳnh Thị Khả Tú

Bà Võ Thị Thanh Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nguyệt Nga – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triệu - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 05 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2023/HSST ngày 22 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 04 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Tuấn A - sinh năm 1991 tại: Đăk Nông; Giới tính: Nam; Thường trú: Tổ X, ấp TN, xã XT, huyện TN, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở hiện nay: Khóm Y, thị trấn SĐ, huyện TVT, tỉnh Cà Mau; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Con ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị H; Bị cáo có vợ và 03 người con (con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2020); Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt truy nã ngày 12/11/2022, bị tam giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hóc Môn; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng khác:

Bị hại: Công ty TNHH DD

Địa chỉ: Y ấp Đ, xã TTT, huyện HM, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Mạnh H2 (vắng mặt)

Địa chỉ: Z PDT, Phường V, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘ DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 01/11/2008, Nguyễn Văn N, Trần Anh H3, Tạ Long Vũ H4, Đinh Văn T1 cùng Nguyễn Văn Tuấn A rủ nhau đi trộm cắp tài sản của Công ty TNHH DD, địa chỉ số Y ấp Đ, xã TTT, huyện HM, Thành phố Hồ Chí Minh để bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, tất cả đồng ý. Đến 02 giờ 00 phút ngày 02/11/2008, cả nhóm đi đến phía sau tường rào Công ty TNHH DD, N, T1 và A leo rào vào trong Công ty. H3, H4 đứng ngoài. Khi cả ba vào trong công ty, N mở cửa phụ của xưởng (không khóa) và leo lưới B40 vào trong nhà kho lấy 10 cuộn da và 02 bao mỗi bao đựng 01 cuộn da, 03 thùng keo dán đưa ra phía cửa sổ cho A đang đứng ngoài nhận lấy chuyển cho T1 đang đứng trên nóc nhà vệ sinh của Công ty để T1 chuyển số tài sản trên ra ngoài tường rào của công ty cho H3 và H4 đang đứng đợi. Sau khi lấy được tài sản, cả bọn đem về bãi đất trống gần phòng trọ của T1 rồi H4, H3, T1, N sử dụng xe mô tô biển số 79L8 – 8370 và xe mô tô biển số 76U9 – 0752 cùng nhau chở 07 cuộn da đi tiêu thụ thì bị Công an huyện Hóc Môn phát hiện bắt quả tang. Riêng A bỏ đi về nhà không đi tiêu thụ, sau đó bỏ trốn nên Công an huyện Hóc Môn đã ra quyết định truy nã.

Nguyễn Văn N, Trần Anh H3, Tạ Long Vũ H4, Đinh Văn T1 đã bị xét xử về tội trộm cắp tài sản theo Bản án số 28/2009/HSST ngày 25/02/2009 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn.

Đến ngày 12/11/2022, Nguyễn Văn Tuấn A bị Công an thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh cà Mau bắt giữ giao cho Công an huyện Hóc Môn xử lý theo thẩm quyền.

Tại Biên bản định giá tài sản số 113/2008, ngày 03/12/2008 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hóc Môn kết luận: 09 cuộn da màu nâu đen hiệu Nucbuck nặng 108 kg, 03 cuộn da màu nâu hiêu Nappa Mill nặng 32kg trị giá 41.040.000đồng; 01 thùng keo dán hiệu Latex nặng 30kg trị giá 780.000đồng; 02 thùng keo dán AG 6100M trị giá 1.697.900đồng. Tổng các loại tài sản trị giá 43.517.900đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Hóc Môn, Nguyễn Văn Tuấn A đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên.

Vật chứng thu giữ: 12 cuộn da, 03 thùng keo dán, 01 xe mô tô biển số: 79L8– 8370 và 01 xe mô tô biển số 76U9 – 0752. Vật chứng đã được đề cập, xử lý xong tại Bản án số 28/2009/HSST ngày 25/02/2009 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn.

Về phần dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự.

Tại bản Cáo trạng số 54/CT-VKSH.HM ngày 09/02/2023, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn để xét xử bị cáo Nguyễn Văn Tuấn A về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự của năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự).

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn sau khi nêu lại nội dung vụ án, phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hậu quả do hành vi của bị cáo đối với bị hại và đối với xã hội, đồng thời nêu lên tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội trộm cắp tài sản, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Về vật chứng và phần dân sự đã được giải quyết tại Bản án số 28/2009/HSST ngày 25/02/2009 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi như luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Người bị buộc tội và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, và việc vắng mặt của bị hại không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt bị hại.

[3] Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn Tuấn A phù hợp với lời khai của Nguyễn Văn N, Trần Anh H3, Tạ Long Vũ H4, Đinh Văn T1, cùng các tài liệu, chứng cứ khác do cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ của vụ án. Vì vậy, đủ cơ sở kết luận vào ngày 02/11/2008, Nguyễn Văn Tuấn A đã cùng Nguyễn Văn N, Trần Anh H3, Tạ Long Vũ H4, Đinh Văn T1 lét lút lấy trộm tài sản là 12 cuộn da, 03 thùng keo dán các loại có tổng trị giá là 43.517.900đồng của Công ty TNHH DD tại địa chỉ số Y ấp Đ, xã TTT, huyện HM, Thành phố Hồ Chí Minh. Nguyễn Văn N, Trần Anh H3, Tạ Long Vũ H4, Đinh Văn T1 đã bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử về tội trộm cắp tài sản theo Bản án số 28/2009/HSST ngày 25/02/2009. Riêng bị cáo bỏ trốn và bị bắt truy nã ngày 12/11/2022. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố để xét xử bị cáo theo điều luật đã viện dẫn trên là đúng người, đúng tội, nên buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo luật định.

[4] Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử có xem xét:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

[4.3] Hành vi phạm tội của bị cáo là táo bạo, thể hiện ý thức xem thường pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận định cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội và cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục đối với bị cáo cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Công ty TNHH DD vắng mặt nhưng tại các chứng cứ mà Cơ quan cảnh sát điều tra thụ thập trong hồ sơ vụ án thể hiện Công ty TNHH DD đã nhận lại tài sản bị trộm và không có yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng: Đã được đề cập, xử lý tại Bản án số 28/2009/HSST ngày 25/02/2009 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Tp.Hồ Chí Minh nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết nữa.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội quy định về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Tuấn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Tuấn A 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/11/2022.

2. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).

3. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

4. Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014);

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ