- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Văn Có - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Văn C.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 93/2023/HS-PT Ngày: 27-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Ngọc Hồng
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Quang
Ông Trần Bá Kha
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nghĩa Biên - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2023/TLPT-HS ngày 13 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo Huỳnh Văn C do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2023/HS-ST ngày 09 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
- Bị cáo có kháng cáo:
Huỳnh Văn C, sinh năm 2000 tại Kiên Giang; Nơi ĐKHKTT: Khu phố K, thị trấn K1, huyện K1, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở: ấp S, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 03/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn G và bà Nguyễn Thị Ch; Vợ Lê Nguyễn Thúy M, sinh năm 2002, có 01 con tên Huỳnh Gia M1, sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/9/2022 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 18/6/2022, bị cáo Huỳnh Văn C nhận được điện thoại của Võ Phước V, sinh năm 2001, có địa chỉ tại ấp S, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang nói là Nguyễn Trọng P chửi V nên V kêu bị cáo C đi cùng đến nhà P để giải quyết mâu thuẫn. Do trước đó, bị cáo C đã có mâu thuẫn với P trong việc tranh chấp đất đai nên có mang theo 01 cây dao màu đen bằng kim loại, mũi dao nhọn, có lưỡi sắt, dài 32cm giấu trong người (V không biết bị cáo C mang theo dao). Sau đó, bị cáo C lấy xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu trắng đen, biển kiểm soát 68P1 - 273.45 đến đón V tại ấp S1, xã D để cùng đi đến nhà P, cùng đi có một người bạn của bị cáo tên Kiệt (chưa rõ nhân thân). Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, khi đến nhà của P tại ấp S, xã D thì V gọi P ra ngoài để nói chuyện thì xảy ra cự cãi và thách thức đánh nhau. Lúc này, bị cáo C lấy trong người ra một cây dao chạy đến đâm 01 nhát trúng vào vùng dưới cánh tay trái của P gây thương tích và làm cây dao dính trên người P. Sau khi gây án, bị cáo C cùng với V, Kiệt bỏ đi, ông P được người nhà đưa đến Trung tâm y tế P để điều trị, ngày 22/6/2022, P yêu cầu khởi tố vụ án. Ngày 15/8/2022, bị cáo C đến Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố P để đầu thú. Đến ngày 31/8/2022, bị khởi tố, tạm giam để điều tra.
Vật chứng thu giữ:
- 01 cây dao màu đen bằng kim loại dài 32cm, phần cán dao dạng tròn dài 13cm, được ốp nhựa màu đen và được cố định bằng đinh ốc; phần lưỡi dao dài 19cm, phần sóng dao có 10 rãnh lõm, một bề sắc, rộng nhất của lưỡi rộng 3,5cm, mũi dao nhọn.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu trắng đen, biển kiểm soát 68P1 - 273.45, đã qua sử dụng.
Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 501/TgT ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế tỉnh Kiên Giang kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông P là 02%.
1. “Dấu hiệu chính qua giám định: Sẹo phần mềm vừng cánh tay trái.
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 02%... ”
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2023/HS-ST ngày 09 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:
Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Văn C mức án 01 năm 06 tháng tù, tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 14/9/2022.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và báo quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 14/02/2023, bị cáo Huỳnh Văn C có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo thừa nhận cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng tội và giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang phát biểu quan điểm giải quyết v án như sau: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo: Cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá đúng tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội ở bị cáo cũng như xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, mức án mà cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù là phù hợp. Tuy nhiên, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 20.000.000đ, bị hại cũng đã nhận đủ số tiền 20.000.000 đồng nên đây là tình tiết mới được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp; bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt là có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 BLTTHS chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo; sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo xuống còn 09 tháng đến 12 tháng tù.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo:
Xét đơn kháng cáo của bị cáo về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định tại Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Về quyết định của Bản án sơ thẩm:
Khoảng 21 giờ ngày 18/6/2022, bị cáo C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68P1 - 273.45 chở Võ Phước V và Kiệt (chưa rõ nhân thân) đến nhà của anh Nguyễn Trọng P để nói chuyện, giải quyết mâu thuẫn giữa ông V và anh P, khi hai bên gặp nhau xảy ra cự cãi, bị cáo C lấy trong người một cây dao màu đen bằng kim loại dài 32cm chạy đến đâm 01 nhát trúng vào vùng dưới cánh tay trái của anh P gây thương tích và làm cây dao dính trên người anh P với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02%. Do đó, cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Huỳnh Văn C về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo của các bị cáo:
Kháng cáo của bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy, Bị cáo đủ khả năng nhận thức được tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác là bất khả xâm phạm, bất kỳ ai có hành vi xâm phạm trái phép đều bị xử lý nghiêm minh. Chỉ vì xuất phát từ việc mâu thuẫn trong việc trông coi đất đai cho người khác, trước khi đến nhà bị hại thì bị cáo C đã chuẩn bị hung khí là cây dao bằng kim loại dài 32cm mang theo nhằm mục đích gây thương tích cho anh P, khi đến nhà anh P khi ông V và anh P xảy ra cự cãi với nhau, giữa bị cáo C và anh P không có mâu thuẫn gì nhưng bị cáo đã dùng dao chạy đến đâm anh P gây thương tích. Hành vi của bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật, đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe, tài sản của người khác một cách trái pháp luật, đồng thời còn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương.
Cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá đúng tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo cũng như xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là phù hợp; mức án mà cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo như trên là không nặng so với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo có cung cấp thêm chứng cứ mới là bồi thường cho bị hại số tiền là 20.000.000 đồng, bị hại đã nhận đủ số tiền này. HĐXX nhận thấy đây là tình tiết mới được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, sau khi nghị án HĐXX nhận thấy kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo là có căn cứ nên chấp nhận.
Về quan điểm của Kiểm sát viên: Lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Bị cáo kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí phúc thẩm 200.000 đổng.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Văn C.
Sửa bản án sơ thẩm số 13/2023/HSST ngày 09 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
Áp dụng: Điểm a, i khoản 1 Điều 134, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Văn C 09 (chín) tháng 13 (mười ba) ngày tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 14/9/2022.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí phúc thẩm.
3. Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm số 13/2023/HSST ngày 09 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Kiên Giang không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Vụ giám đốc kiểm tra 1 (1); - VKSND Cấp cao tại Tp. HCM (1); - TAND Cấp cao tại Tp.HCM (1); - VKSND tỉnh KG (1); - Sở Tư pháp tỉnh KG (1); - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh KG (1); - Bị cáo (1); - Cơ quan điều tra TP (1) - VKS TP (1) - Tòa án TP (1) - Thi hành án hình sự TP (1) - Chi cục thi hành án dân sự TP (1) - Tổ hành chính tư pháp (1); - Đương sự (2) - Lưu hồ sơ (1); - Lưu tòa hình sự (5). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Ngọc Hồng |