vanban.org

Bản án 93/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Th được ly hôn anh Nguyễn Văn Đ1.

Về nuôi con chung: Giao con Nguyễn Minh Đ1, sinh ngày 09-4-2009 cho anh Nguyễn Văn Đ1 trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con, các bên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không x… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân gia đình giữa chị Th - anh Đ"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Th được ly hôn anh Nguyễn Văn Đ1.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH BẢO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2023/HNGĐ-ST
Ngày 20-10-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Hữu Hường

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Quyết

Bà Nguyễn Thị Tâm

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Viết Hoàn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Đào Duy Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 51/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 9 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 82/2023/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Th; trú tại: Thôn B, xã Đ, huyện V, thành phố H; vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Đ1; trú tại: Thôn B, xã Đ, huyện V, thành phố H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 10-3-2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th trình bày:

Chị Th và anh Đ1 kết hôn do tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện V, thành phố H năm 2000. Quá trình chung sống giữa vợ chồng, có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm, về tính cách nên đã sống ly thân mỗi người một nơi và không còn quan tâm, trách nhiệm đối với nhau. Nay, Chị Th cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ không còn nên yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với anh Đ1 theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Có 02 con là Nguyễn Thị Hồng Nh, sinh năm 2001 và Nguyễn Minh Đ1, sinh ngày 09-4-2009. Ly hôn, Chị Th đề nghị Tòa án giao con Nguyễn Minh Đ1 cho anh Đ1 trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi). Việc cấp dưỡng nuôi con, hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Con Nguyễn Thị Hồng Nh đã thành niên (trên 18 tuổi), Chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi dưỡng.

Về tài sản chung: Chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Biên bản ghi lời khai của đương sự đề ngày 14-7-2023, bị đơn anh Nguyễn Văn Đ1 xác nhận việc kết hôn và quá trình chung sống vợ chồng giữa anh Đ1 và Chị Th có phát sinh mâu thuẫn như Chị Th trình bày là đúng. Nay Chị Th yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, anh Đ1 đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Anh Đ1 xác nhận vợ chồng có 02 con là Nguyễn Thị Hồng Nh, sinh năm 2001 và Nguyễn Minh Đ1, sinh ngày 09-4-2009. Trường hợp vợ chồng ly hôn, anh Đ1 có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con Nguyễn Minh Đ1 cho đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi). Việc cấp dưỡng nuôi con, hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Con Nguyễn Thị Hồng Nh đã thành niên (trên 18 tuổi), anh Đ1 không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi dưỡng.

Về tài sản chung: Anh Đ1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án như sau:

Thẩm phán đã xác định đúng về thẩm quyền giải quyết vụ án; về quan hệ pháp luật tranh chấp; về tư cách tham gia tố tụng; về việc thu thập chứng cứ; về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát; việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa đã được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12 -2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, xử: Cho chị Nguyễn Thị Th ly hôn anh Nguyễn Văn Đ1. Về con chung: Giao con Nguyễn Minh Đ1 cho anh Nguyễn Văn Đ1 trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên hoặc khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con: Các bên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Con Nguyễn Thị Hồng Nh đã thành niên (trên 18 tuổi) nên không xem xét, giải quyết việc nuôi dưỡng. Về tài sản chung: Các bên không yêu cầu nên không xem xét. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn đối với bị đơn. Do đó, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Bị đơn có địa chỉ tại Thôn B, xã Đ, huyện V, thành phố H. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.

Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Văn Đ1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên toà lần thứ hai nhưng vắng mặt và không có căn cứ xác định việc vắng mặt của bị đơn là do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn.

- Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Th kết hôn với anh Nguyễn Văn Đ1 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 36/2000, Quyển số 01/2000 ngày 25-12-2000. Căn cứ khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, quan hệ hôn nhân giữa Chị Th và anh Đ1 là hợp pháp.

Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Chị Th cho rằng quá trình chung sống giữa Chị và anh Đ1 có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai bên có bất đồng về quan điểm, về tính cách nên giữa vợ chồng không có sự yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và đã sống ly thân mỗi người một nơi, không còn quan tâm, trách nhiệm đối với nhau. Về phía anh Đ1 cũng xác nhận quá trình chung sống giữa vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn và đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Quá trình Toà án thụ lý giải quyết vụ án, cả Chị Th và anh Đ1 đều không thiện chí và không có biện pháp gì cụ thể để khắc phục mâu thuẫn giữa vợ và chồng. Qua đó đánh giá rằng, mâu thuẫn vợ chồng giữa Chị Th và anh Đ1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Việc Chị Th yêu cầu ly hôn với anh Đ1 là có căn cứ, phù hợp với thực tế và phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.

Về con chung: Chị Th và anh Đ1 có 02 con là Nguyễn Thị Hồng Nh, sinh năm 2001 và Nguyễn Minh Đ1, sinh ngày 09-4-2009. Trường hợp vợ chồng ly hôn, Chị Th đề nghị Toà án giao con Nguyễn Minh Đ1 cho anh Đ1 trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên; còn anh Đ1 đồng ý được nuôi dưỡng con Nguyễn Minh Đ1 cho đến khi con thành niên. Trong khi đó, cháu Nguyễn Minh Đ1 hiện đang sống cùng anh Đ1 và có nguyện vọng được ở với bố. Xét thấy, việc giao con chưa thành niên cho bố hoặc mẹ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn phải bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con. Do vậy, cần giao con Nguyễn Minh Đ1 cho anh Đ1 trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với điều kiện thực tế, phù hợp nguyện vọng của con và phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Về việc cấp dưỡng nuôi con, các bên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Con Nguyễn Thị Hồng Nh đã thành niên (trên 18 tuổi) nên Tòa án không giải quyết việc nuôi dưỡng.

Về tài sản chung: Các bên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; xử:

1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Th được ly hôn anh Nguyễn Văn Đ1.

2. Về nuôi con chung: Giao con Nguyễn Minh Đ1, sinh ngày 09-4-2009 cho anh Nguyễn Văn Đ1 trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con, các bên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Con Nguyễn Thị Hồng Nh, sinh năm 2001 đã thành niên (trên 18 tuổi) nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết việc nuôi dưỡng.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung: Các bên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Th phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002515 ngày 14-3-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn đều có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ