- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa nguyên đơn Võ Diễm C với bị đơn anh Lê Tuấn A"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Diễm C.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 93/2023/HNGĐ-ST Ngày: 16 – 5 – 2023 V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bạch Phiến.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Văn Khon;
2. Ông Lê Văn Dài.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thùy Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhàn – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 55/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2023 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Võ Diễm C, sinh năm 1995. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Lê Tuấn A, sinh năm 1995. Địa chỉ: Cụm D, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Vắng mặt lần thứ hai, không rõ lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Võ Diễm C trình bày:
Chị Võ Diễm C và anh Lê Tuấn A tổ chức đám cưới theo phong tục, tập quán địa phương ngày 02/6/2018 (âm lịch), có đăng ký kết hôn ngày 04/7/2018, tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Trước khi kết hôn, chị C và anh Tuấn A có quen biết, tìm hiểu trước khoảng 06 tháng. Việc anh chị kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai cưỡng ép hay lừa dối.
Trước khi kết hôn, chị C không biết anh Tuấn A tham gia tệ nạn xã hội. Sau khi kết hôn về chung sống với nhau, thì chị C mới biết anh Tuấn A tham gia tệ nạn xã hội, nhưng không biết cụ thể anh Tuấn A tham gia tệ nạn xã hội cụ thể là gì, chỉ biết anh Tuấn A thường chơi qua điện thoại. Thu nhập của anh Tuấn A được bao nhiêu thì sử dụng để chơi bời hết, thiếu nợ bên ngoài, chị C phải lấy tiền từ thu nhập của mình để trả nợ cho anh Tuấn A, chủ nợ nhiều lần đến nhà đòi tiền. Chị C đã khuyên anh Tuấn A rất nhiều lần, nhưng anh Tuấn A không bỏ. Tháng 10 năm 2022, chị C và anh Tuấn A ly thân. Từ khi ly thân đến nay, anh Tuấn A nhắn tin cho chị hàn gắn được vài lần. Từ lúc anh Tuấn A biết chị nộp đơn khởi kiện ly hôn đến nay, anh Tuấn A không liên lạc với chị nữa. Hiện nay, chị C không còn tình cảm vợ chồng với anh Tuấn A.
Chị Võ Diễm C và anh Lê Tuấn A không có con chung, tài sản chung và nợ chung.
Nay chị Võ Diễm C yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Về hôn nhân: Chị Võ Diễm C yêu cầu ly hôn với anh Lê Tuấn A.
- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Lê Tuấn A không có ý kiến trình bày.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, cần phê phán rút kinh nghiệm.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Diễm C: Cho chị Võ Diễm C được ly hôn với anh Lê Tuấn A; Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án gồm: Đơn khởi kiện ngày 24/10/2022 của chị Võ Diễm C; Giấy chứng nhận kết hôn giữa chị Võ Diễm C và anh Lê Tuấn A; Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 03/4/2023 và Biên bản xác minh ngày 06/4/2023.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Theo yêu cầu khởi kiện của chị Võ Diễm C và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp là tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Lê Tuấn A cư trú tại ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Anh Lê Tuấn A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Tuấn A là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành thu thập chứng cứ, nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia theo quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự. [2] Về nội dung:
Về hôn nhân: Chị Võ Diễm C và anh Lê Tuấn A đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 04/7/2018. Anh chị kết hôn là tự nguyện, không bị ai cưỡng ép hay lừa dối. Việc kết hôn giữa chị C và anh Tuấn A là phù hợp với quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
Xét thấy, trong thời gian chị C và anh Tuấn A kết hôn anh chị xảy ra nhiều mâu thuẫn do anh Tuấn A tham gia tệ nạn xã hội, dẫn đến thiếu nợ, chị C phải trả nợ cho anh Tuấn A nhiều lần, chị C không còn tình cảm vợ chồng với anh Tuấn A. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, thông báo cho anh Tuấn A biết yêu cầu khởi kiện của chị C, nhưng anh Tuấn A không đến Tòa án để hòa giải, cũng như không có ý kiến trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị C. Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Anh chị đã hàn gắn tình cảm nhiều lần nhưng không hàn gắn được. Điều này chứng minh, hôn nhân giữa chị C và anh Tuấn A đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị C đối với anh Tuấn A là phù hợp.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị C xác định chị C và anh Tuấn A không có con chung, tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết; Nhưng không có ý kiến của anh Tuấn A; nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này; Nếu sau này anh chị có phát sinh tranh chấp, sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án khác.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quy định pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị C phải chịu án phí về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Diễm C.
- Về hôn nhân: Chị Võ Diễm C được ly hôn với anh Lê Tuấn A.
- Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Chị Võ Diễm C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016138 ngày 16/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình. Chị Võ Diễm C đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Anh Lê Tuấn A không phải chịu án phí.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Thanh Bình; - Chi cục THADS huyện Thanh Bình; - TAND tỉnh Đồng Tháp; - UBND xã Bình Thành (ĐKKH số: 89 ngày 04/7/2018); - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Bạch Phiến |