- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lê Quốc C212 xin ly hôn với anh Lê Quốc C212"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Quốc C212
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 93/2023/HNGĐ-ST Ngày 23 – 5 – 2023 V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Tuấn.
Bà Bùi Thị Thu Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Khiếm – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
Ngày 23 tháng 5 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 84/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2023 về tranh chấp ly hôn và nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Quốc C212, sinh năm 1982 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh C ..
- Bị đơn: Anh Lê Quốc C212, sinh năm 1977 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh C ..
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 13/02/2023 và các lời khai tại Tòa án chị Lê Quốc C212 (nguyên đơn) trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Lê Quốc C212 chung sống với nhau vào năm 2002, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lương Thế Trân, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Quá trình chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2012 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, anh C212 không quan tâm lo lắng gia đình, vợ chồng thường xuyên cự cãi, anh C212 có hành vi bạo lực gia đình và đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, nay chị yêu cầu ly hôn với anh Lê Quốc C212.
Về con chung: Chị xác định có 02 con chung tên Lê Lâm Châu Đoan, sinh ngày 22/11/2009 và Lê Lâm Anh Đài, sinh ngày 01/01/2011. Hiện nay, con đang sống với anh C212. Sau khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi hai con và không yêu cầu anh C212 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung; nợ thu, nợ trả: Chị xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Lê Quốc C212, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý về yêu cầu của chị Lê Quốc C212 nhưng anh C212 không có ý kiến. Tòa án thông báo để anh C212 tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đến lần thứ hai nhưng anh C212 vắng mặt nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải giữa anh, chị được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Lê Quốc C212 tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh C212 vắng mặt không lý do; nguyên đơn chị Lê Quốc C212 có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh C212, chị C212 theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền:
Tranh chấp giữa chị Lê Quốc C212 với anh Lê Quốc C212 là tranh chấp hôn nhân và gia đình về tranh chấp ly hôn và nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Lê Quốc C212 có địa chỉ cư trú tại ấp Đông Hưng, xã Tân Hưng Đông, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Chị Lê Quốc C212 và anh Lê Quốc C212 chung sống với nhau vào năm 2002, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lương Thế Trân, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận kết hôn 138 ngày 27/5/2002 nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Chị C212 yêu cầu được ly hôn với anh C212, với nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, anh C212 không quan tâm lo lắng gia đình, vợ chồng thường xuyên cự cãi, anh C212 có hành vi bạo lực gia đình và đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Đối với yêu cầu này Hội đồng xét xử thấy rằng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử anh C212 không có ý kiến bằng văn bản hay trực tiếp tranh tụng tại phiên tòa để thể hiện quan điểm đối với yêu cầu của chị C212, cũng như tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp chính đáng cho anh. Nhận thấy, mâu thuẫn giữa chị C212 và anh C212 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo yêu cầu của chị C212, cho chị C212 được ly hôn với anh C212 là có căn cứ pháp luật được quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị C212 xác định có 02 con chung tên Lê Lâm Châu Đoan, sinh ngày 22/11/2009 và Lê Lâm Anh Đài, sinh ngày 01/01/2011. Hiện nay, con đang sống với anh C212. Sau khi ly hôn chị C212 yêu cầu được nuôi hai con và không yêu cầu anh C212 cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, tại biên bản lấy lời khai ngày 07/4/2023 các cháu Lê Lâm Châu Đoan, Lê Lâm Anh Đài đều có nguyện vọng muốn sống cùng với chị C212. Mặt khác, anh C212 cũng không có ý kiến yêu cầu được nuôi các con nên yêu cầu nuôi con của chị C212 là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị C212 giao hai cháu Lê Lâm Châu Đoan, Lê Lâm Anh Đài cho chị C212 trực tiếp nuôi dưỡng. Chị C212 không yêu cầu anh C212 cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung; nợ thu, nợ trả: Chị C212 xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị C212 phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 9, 51, 53, 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Quốc C212
[1] Về hôn nhân: Chị Lê Quốc C212 được ly hôn với anh Lê Quốc C212.
[2] Về con chung: Giao cho chị Lê Quốc C212 được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung tên Lê Lâm Châu Đoan, sinh ngày 22/11/2009 và Lê Lâm Anh Đài, sinh ngày 01/01/2011. Anh Lê Quốc C212 không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Lê Quốc C212 không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lê Quốc C212 phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0008830 ngày 17/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước; chị C212 đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, chị Lê Quốc C212 và anh Lê Quốc C212 vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Chi cục THADS cùng cấp; - Phòng KTNV&THA; - UBND xã Lương Thế Trân; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Hiền |