vanban.org

Bản án 93/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Văn S .

Về con chung chưa thành niên: Giao cho chị Nguyễn Thị P được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Khánh L, sinh ngày 21/4/2019. Anh Nguyễn Văn S tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng Nguyễn Thảo V, sinh ngày 25/10/2016. Chị P và anh S không bên nào phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho bên nào. Anh Nguyễn Văn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị P và anh S"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Văn S .
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NAM TRỰC
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2023/HNGĐ-ST
Ngày 24 - 8 - 2023
V/v: Ly hôn giữa chị P và anh S

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thịnh. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hùng Bà Phạm Thị Xuyến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hằng, Thư ký tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Là, kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 111/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2023 về việc " ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1998; địa chỉ: Xóm Hái Hoa , xã Phấn M, huyện L, tỉnh Thái Nguyên (có mặt);

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn Đông Cổ

G, xã H, huyện T, tỉnh Nam Định (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 22 tháng 6 năm 2023, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị P trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh S kết hôn tự nguyện, đăng ký tại trụ sở UBND xã H, huyện T, tỉnh Nam Định vào ngày 18/8/2016. Trong quá trình chung sống vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do chị và anh S chung sống tính cách không hòa hợp, không có tiếng nói chung, hay cãi chửi nhau. Chị và anh S đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2023 cho đến nay. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn đoàn tụ được, đề nghị xin được ly hôn anh S .

Về con chung chưa thành niên: Chị và anh S có 02 con chung là Nguyễn Thảo V, sinh ngày 25/10/2016 và Nguyễn Khánh L, sinh ngày 21/4/2019. Hiện nay 02 con chung đang do anh S trực tiếp nuôi dưỡng. Sau ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Khánh L, anh S trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Thảo V. Chị và anh S không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.

Về tài sản chung và công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, anh Nguyễn Văn S trình bày: Về việc kết hôn như chị P trình bày là đúng. Anh và chị P đã sống ly thân năm 2019 cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng chỉ là va chạm nhỏ trong cuộc sống, vợ chồng vẫn có thể về đoàn tụ được. Nếu chị P kiên quyết xin ly hôn anh cũng đồng ý ly hôn chị P.

Về con chung chưa thành niên: Anh và chị P có có 02 con chung là Nguyễn Thảo V, sinh ngày 25/10/2016 và Nguyễn Khánh L, sinh ngày 21/4/2019. Từ khi vợ chồng sống ly thân anh là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Sau ly hôn anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu chị P phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh.

Về tài sản chung và công nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Việc thu thập các tài liệu có trong hồ sơ vụ án của Thẩm phán và hoạt động tố tụng tại phiên tòa của Hội đồng xét xử, đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, khoản 4 điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6, Điều 27 Nghị quyết 326/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án, đề nghị Hội Đồng xét xử:

1. Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Văn S.

2. Giao cho chị Nguyễn Thị P được trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Khánh , sinh ngày 21/4/2019 và cho anh Nguyễn Văn S được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thảo V, sinh ngày 25/10/2016. Chị P và anh S không bên nào phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.

3. Về án phí DSST: Chị P phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn.

4. Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Văn S kết hôn, đăng ký tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Nam Định vào tháng 18/8/2016 là hôn nhân có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, mâu thuẫn vợ chồng phát sinh giữa chị P và anh S là do tính cách không hòa hợp, bất đồng quan điểm, hay cãi chửi nhau. Chị P và anh S đã sống ly thân từ tháng 9/2019 cho đến nay, điều đó thể hiện tình cảm giữa chị P và anh S không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu xin ly hôn của chị P là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung chưa thành niên: Chị P và anh S có 02 con chung Nguyễn Thảo V, sinh ngày 25/10/2016 và Nguyễn Khánh L, sinh ngày 21/4/2019. Hiện nay 02 con chung đang do anh S Trực tiếp nuôi dưỡng. Trong quá trình giải quyết vụ án chị P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Khánh L. Anh S yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Xét thấy cháu Nguyễn Khánh L còn nhỏ, cần có sự chăm sóc nuôi dưỡng của người mẹ, nguyện vọng được nuôi con của chị P là chính đáng. Do vậy yêu cầu của chị P được nuôi cháu Ly, anh S nuôi cháu V, không bên nào phải cấp dưỡng cho bên nào là đảm bảo được lợi ích của con chung, phù hợp với quy định của Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Về tài sản chung: Các đương sự không có yêu cầu, nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị P phải nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1.Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Văn S .

2. Về con chung chưa thành niên: Giao cho chị Nguyễn Thị P được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Khánh L, sinh ngày 21/4/2019. Anh Nguyễn Văn S tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng Nguyễn Thảo V, sinh ngày 25/10/2016. Chị P và anh S không bên nào phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho bên nào. Anh Nguyễn Văn S phải có trách nhiệm giao cháu Nguyễn Khánh L cho chị Nguyễn Thị P.

Chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Văn S có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở quyền này.

3.Về án phí : Chị Nguyễn Thị P phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị P đã nộp theo biên lai số 0000542 ngày 23 tháng 6 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Văn S có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì đương sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ