vanban.org

Bản án 93/2023/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng góp hụi"
  • Căn cứ chính? Điều 15 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ DẦU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2023/DS-ST
Ngày: 10-8-2023
“Tranh chấp hợp đồng góp hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Quỳnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Thúy Hằng.

Bà Trần Ánh Nhạn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bình Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đan Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số 222/2023/TLST-DS ngày 15 tháng 6 năm 2023, về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2023/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị P, sinh năm: 1961. Địa chỉ: ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh, có mặt.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Phương T, sinh năm: 1978. Địa chỉ: ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị G (C), sinh năn: 1970. Địa chỉ: ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

2. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1978, ngụ cùng địa chỉ với bà T, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Ngô Thị P trình bày: Bà yêu cầu bà T có nghĩa vụ trả các khoản tiền nợ hụi còn nợ lại, cụ thể như sau:

Dây 1: Hụi 1.000.000 đồng/tháng, mở ngày 30-3-2022 âm lịch, gồm 22 phần, bà tham gia 02 hụi viên. Hụi chưa kết thúc thì bị bể. Sau đó bà T xin trả lại cho bà tiền hụi sống, bà đồng ý nên bà T tính mỗi phần bà đóng hụi sống được tổng cộng 3.240.000 đồng x 2 phần = 6.480.000 đồng.

Dây 2: Hụi 300.000 đồng/tuần, gồm 30 hụi viên, mở ngày 09-5-2022 âm lịch, bà tham gia 03 phần, bà góp được 25 phần, chưa lĩnh phần nào, hụi không bị bể nhưng bà T không đăng hụi cho bà. Bà yêu cầu bà T trả lại cho bà bằng tiền hụi chết là 25 kỳ x 300.000 đồng/kỳ x 3 phần = 22.500.000 đồng.

Dây 3: Hụi 1.000.000 đồng/tháng, gồm 20 hụi viên, mở ngày 15-5-2022 âm lịch, bà tham gia 02 phần, hụi bị bể thời gian nào bà không nhớ. Nhưng bà cộng lại các khoản tiền hụi sống mà bà đã đóng là 3.500.000 đồng/phần x 2 phần = 7.000.000 đồng.

Như vậy, tổng cộng các khoản bà yêu cầu bà T có nghĩa vụ trả cho bà là 35.980.000 đồng. Bà không yêu cầu tính lãi.

Khi gom tiền hụi chỉ có 01 mình bà T đến nhà bà gom. Khi bà đến nhà khui hụi thì có chồng của bà T là ông Nguyễn Văn S chứng kiến. Bà không biết bà T sử dụng tiền chơi hụi để làm gì. Bà không xác định được đây là nợ riêng hay nợ chung cả bà T với chồng bà T nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Khi khởi kiện bà yêu cầu số tiền là 38.280.000 đồng (số này do bà T tính toán các khoản còn nợ bà thông qua người cháu bà là bà Nguyễn Thị G). Sau đó, bà tính toán lại thì bà T chỉ con nợ bà số tiền 35.980.000 đồng nên bà rút yêu cầu khởi kiện với số tiền chênh lệch là 2.300.000 đồng.

Ngoài ra, bà T còn cho rằng đã cấn trừ số nợ mà bà T còn nợ bà qua cho bà G (tức bà G còn nợ tiền bà T, bà T giao số nợ này qua cho bà G trả cho bà) bà không chấp nhận, bà yêu cầu bà T phải có nghĩa vụ trả nợ cho bà.

Bị đơn bà Nguyễn Phương T trình bày: Trong những lần Tòa án làm việc trước đây chỉ đồng ý còn nợ bà P số tiền 28.480.000 đồng, còn lại 7.000.000 đồng (là số chênh lệch giữa yêu cầu của bà P và ý kiến của bà), bà không chấp nhận. Lý do, trong dây hụi thứ 3, có 01 phần bà P đã lĩnh hụi xong nên là hụi chết chứ không còn là hụi sống như bà P trình bày. Tại phiên tòa, bà đồng ý còn nợ lại bà P tổng số tiền 35.980.000 đồng như bà P yêu cầu.

Do bà Nguyễn Thị G (C) là cháu gọi bà P bằng dì ruột còn nợ bà số tiền 74.900.000 đồng; nên vào tháng 11-2022 âm lịch, bà tính toán với bà G các khoản mà bà còn nợ bà P là 38.280.000 đồng (trong đó có 10.000.000 đồng tiền bà vay góp và 28.280.000 đồng tiền hụi. Sau khi gút nợ, bà có trả cho bà P được số tiền 10.000.000 đồng tiền vay góp). Bà khấu trừ số nợ mà bà còn nợ bà P sang cho bà G, để bà G trả nợ cho bà P. Sau khi khấu trừ, số nợ bà G còn nợ lại bà là 36.620.000 đồng. Lúc bà và bà G tính toán các khoản nợ không có mặt của bà P, bà không biết bà P có đồng ý hay không. Phần bà P cũng không có liên lạc gì với bà nên bà cứ nghĩ là bà P đồng ý.

Nay bà không đồng ý trả nợ cho bà P, bà yêu cầu bà G phải có nghĩa vụ trả cho bà P số tiền mà bà còn nợ lại bà P là 35.980.000 đồng. Đối với số tiền còn lại bà G còn nợ bà, bà cho bà G luôn và không yêu cầu bà G phải trả. Nếu không được Tòa án chấp nhận việc khấu trừ như yêu cầu của bà thì bà không đồng ý cho bà G số nợ mà bà G còn nợ lại bà.

Đây là nợ riêng của bà, bà có chồng nhưng chồng bà đã chết. Hiện bà sống cùng ông Nguyễn Văn S, nhưng không có đăng ký kết hôn. Bà sử dụng số tiền này cho riêng cá nhân bà, không sử dụng gì cho nhu cầu thiết yếu của gia đình. Ông S không biết và không liên quan gì đến số nợ này nên bà yêu cầu để một mình bà trả nợ cho bà P.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị G (C) trình bày: Giữa bà và bà T có tính toán và khấu trừ giữa khoản nợ bà còn nợ bà T cùng khoản nợ bà T còn nợ bà P. Nhưng khi cấn trừ nợ bà P không biết, cũng không có văn bản thỏa thuận giữa các bên. Sau khi khấu trừ, bà không thông báo cho bà P biết việc này. Khi bà T trúng số nhưng không trả nợ cho bà P, bà P đến nhà bà T đòi nợ thì mới biết vấn đề cần trừ nợ, bà P không chấp nhận. Nay bà yêu cầu nợ của ai người đó trả, bà có nghĩa vụ trả nợ cho bà T, bà T có nghĩa vụ trả nợ cho bà P. Bà không đồng ý với việc cấn trừ nợ như yêu cầu của bà T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn S trình bày: Thống nhất với lời trình bày của bà T về nghĩa vụ trả nợ của ông, tức không không biết gì về số nợ này, ông không có liên quan nên ông không đồng ý có nghĩa vụ trả nợ cho bà P.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu tham gia phiên tòa phát biểu:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng tuân thủ đúng theo pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 26, 35, 36, 39, 71, 85, 147, 217, 218, 227, 228 và 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 471 của Bộ luật Dân sự; Điều 18 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19- 02-2019 của Chính phủ quy định về về họ, hụi, biêu, phường: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị P, buộc bà Nguyễn Phương T có nghĩa vụ trả cho bà P1 số tiền 35.980.000 đồng. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà P với số tiền chênh lệch là 2.300.000 đồng giữa đơn khởi kiện với yêu cầu của bà P tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Các đương sự gồm bà Nguyễn Thị G và ông Nguyễn Văn S có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà Ngô Thị P rút yêu cầu khởi đối với số tiền 2.300.000 đồng nên Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà P là phù hợp với các điều 217, 218 và 219 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị P, thấy rằng:

[2.1] Hai bên thống nhất sau khi tính toán lại, số tiền nợ hụi bà T còn nợ bà P là 35.980.000 đồng. Hội đồng xét xử ghi nhận là phù hợp với Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc bà T cho rằng bà không còn nghĩa vụ trả nợ cho bà P, do đã cấn trừ nợ qua cho bà G là không có căn cứ. Bởi lẽ, bà T là người nợ tiền bà P. Việc cấn trừ nợ bà P không biết và cũng không chấp nhận, các bên không có văn bản ghi nhận có việc thỏa thuận này. Bà T nhận có nợ bà P nhưng bà T không có chứng cứ chứng minh là bà đã trả nợ xong và không còn nghĩa vụ gì với số này. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà P, buộc bà T phải có nghĩa vụ trả số tiền 35.980.000 đồng cho bà P là phù hợp với Điều 471 của Bộ luật Dân sự và các điều 15, 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19- 02-2019 của Chính phủ quy định về về họ, hụi, biêu, phường.

Về nghĩa vụ trả nợ: Bà P không chứng minh được ông S có cùng với bà T giao dịch cũng như cùng sử dụng số tiền còn nợ bà P. Ngoài ra, không có căn cứ nào khác để xác định đây là nợ chung của bà T và ông S. Vì vậy, Hội đồng xét xử buộc 01 mình bà T có nghĩa vụ trả nợ cho bà P là phù hợp với quy định tại Điều của 288 Bộ luật Dân sự và các điều 27, 37 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Như vậy, toàn bộ đề xuất của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu là có căn cứ, Hội đồng xét xử cần ghi nhận. [5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bà T phải chịu 5% mức án phí trên số tiền phải trả cho bà P.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 92 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 288 và 471 của Bộ luật Dân sự; các điều 15, 18 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19-02-2019 của Chính phủ quy định về về họ, hụi, biêu, phường; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; các điều 27, 37 của Luật Hôn nhân và gia đình.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị P.

Buộc bà Nguyễn Phương T có nghĩa vụ trả cho bà Ngô Thị P số tiền 35.980.000 đồng (ba mươi lăm triệu, chín trăm tám mươi nghìn đồng). Ghi nhận bà P không yêu cầu tính lãi.

3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà P đối với số tiền 2.300.000 đồng.

4. Về án phí sơ thẩm dân sự: Bà T phải nộp 1.799.000 đồng.

5. Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có có mặt được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng được sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Ðiều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Ðiều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ