vanban.org

Bản án 93/2023/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 471 và Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015;

họ, hụi, biêu, phường; năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9 và Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "HĐ hụi"
  • Tòa quyết gì? luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 471 và Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 93/2023/DS-ST
Ngày: 31-05-2023
V/v tranh chấp hợp đồng góp
hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Diệu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Văn Tám

2. Ông Nguyễn Văn Ngân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Thy là Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang tham

gia phiên toà: Ông Lê Thanh Phong - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét

xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 61/2023/TLST-DS ngày 14 tháng

03 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án

ra xét xử số: 129/2023/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 04 năm 2023 và Quyết định

hoãn phiên tòa số: 106/2023/QĐST-DS ngày 12 tháng 5 năm 2022 giữa các

đương sự:

1.Nguyên đơn: Ông Nguyễn Công Tr, sinh năm 1968; Địa chỉ: tổ 01 ấp

Hiệp Trung, xã Hiệp Xương, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang;

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Trịnh Thị Thu B, sinh năm

1978; địa chỉ: ấp Hiệp Trung, xã Hiệp Xương, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang là

người đại diện theo uỷ quyền (giấy uỷ quyền ngày 27/3/2023), có mặt;

2. Bị đơn: Bà Trần Thị Như Ng, sinh năm 1984; địa chỉ: : tổ 01 ấp Hiệp

Trung, xã Hiệp Xương, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án người

đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Công Tr bà Trịnh Thị Thu B trình bày: Từ năm 2019 đến 2021 ông Nguyễn Công Tr có tham gia giao dịch hụi với bà Trần Thị Như Ng. Bà Ng làm chủ của nhiều dây hụi, trong đó ông Tr tham gia là hụi viên cụ thể như sau:

Hụi 1.000.000 đồng/tháng, gồm 29 phần, trong đó ông Tr tham gia 03

phần hụi, ông Tr đã lĩnh 02 phần hụi, còn lại 01 phần hụi sau cùng (hụi chót) sau khi trừ hoa hồng còn lại 26.500.000 đồng (trong đó vốn là 17.700.000 đồng lãi hụi là 8.800.000 đồng), phía bà Ng không giao tiền hụi.

Hụi 2.000.000 đồng/tháng, gồm 22 phần, ông Tr tham gia 02 phần, hụi

này ông Tr là người lĩnh hụi sau cùng (hốt chót) với số tiền 45.300.000 đồng (không có lãi hụi), tuy nhiên bà Ng không giao tiền hụi.

Hụi 1.000.000 đồng/tháng, gồm 25 phần, ông Tr tham gia 01 phần, ông Tr

chầu hụi được lần thứ 17 thì bà Ng ngừng hụi, số tiền ông Tr chầu được là 10.050.000 đồng. Tổng cộng bà Ng còn nợ tiền hụi ông Tr là 17.700.000 đồng + 45.300.000 đồng + 10.050.000 đồng =73.050.000 đồng. Vì vậy, ông Nguyễn Công Tr yêu cầu bà Trần Thị Như Ng có trách nhiệm trả tiền hụi là 73.050.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất phát sinh.

Bị đơn: Bà Trần Thị Như Ng đã được tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ

án nhưng vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã triệu tập bà đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ hai và triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng bà Ng vẫn vắng mặt, không rõ lí do.

Tại phiên tòa:

Người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn bà Trịnh Thị Thu B yêu cầu bà

Ng trả tiền hụi là 73.050.000 đồng, không yêu cầu tính lãi, và không giao nộp thêm tài liệu chứng cứ.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân biểu ý kiến về việc

tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng Điều

471 Bộ luật dân sự năm 2015. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Buộc bà Trần Thị Như Ng có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Công Tr số

tiền hụi là 73.050.000 đồng

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được

xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Nguyên đơn tranh chấp với bị đơn về hợp đồng góp

hụi được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; và bị

đơn có nơi cư trú tại địa bàn huyện Phú Tân. Nên, Tòa án nhân dân huyện Phú

Tân thụ lý, giải quyết là đúng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a

khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn bà Trần Thị Như Ng đã được

triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, do đó, Tòa án tiến hành xét

xử vắng mặt bà Ng theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

Về nội dung vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị Như

Ng trả số tiền hụi là 73.050.000 đồng. Tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung

cấp là 03 giấy hụi. Ngoài ra, còn các lời khai của người làm chứng ông Nguyễn

Văn Tài; Huỳnh Thị Hiền (Tuấn); Trần Thị Thuỳ Trang là những người cùng

tham gia góp hụi và là hụi viên trong các dây hụi do bà Trần Thị Như Ng làm

chủ. Quá trình tố tụng Toà án đã tiến hành tống đạt các văn bản cho bà Ng, tuy

nhiên phía bị đơn bà Ng vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến phản

hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Xét, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về hợp đồng góp hụi, trên cơ

sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; lời trình bày của nguyên đơn; căn

cứ vào 03 giấy hụi và những người làm chứng là hụi viên cùng tham gia với ông

Tr, thể hiện bà Nguyệt làm chủ nhiều dây hụi, sau đó bà Ng góp tiền hụi của

những hụi viên và không giao lại cho những người được lĩnh hụi (hốt hụi) và bà

Ng tuyên bố vỡ hụi nên không giao tiền lại cho những hụi viên chưa được lĩnh

hụi (hốt hụi). Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu trả số tiền hụi còn nợ là

73.050.000 đồng là có cơ sở phù hợp với Điều 29 Nghị định 144/2006/CP ngày

27/11/2006 của chính phủ về họ, hụi, biêu, phường nên được chấp nhận.

Xét về trách nhiệm trả nợ: Nguyên đơn yêu cầu bà Ng có trách

nhiệm trả số tiền hụi là 73.050.000 đồng. Do bà Ng vi phạm nghĩa vụ của chủ

hụi nên theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ để Hội đồng xét xử

chấp nhận. Buộc bà Trần Thị Như Ng có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Công

Tr số tiền hụi là 73.050.000 đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp

nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.652.500 đồng. Hoàn trả

tiền tạm ứng án phí là 1.826.000 đồng cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 227; Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ

luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 471 và Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015;

Điều 15; 29 Nghị định 144/2006/CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về

họ, hụi, biêu, phường;

Khoản 3 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12

năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9 và Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Công Tr đối với bà Trần

Thị Như Ng.

Buộc bà Trần Thị Như Ng có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Công Tr số

tiền 73.050.000 (Bảy mươi ba triệu không trăm năm mươi nghìn)đồng.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ

quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Như Ng phải chịu 3.652.500

đồng đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí là 1.826.000 đồng cho ông Nguyễn Công Tr theo biên lai thu số 0005987 ngày 14/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân.

5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các

đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng được sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2

luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo qui định tại Điều 30 luật thi hành.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ