vanban.org

Bản án 93/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Gia H đối với ông Phan Quốc K về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”.

Buộc ông Phan Quốc K có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Gia H số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng). Kể từ ngày bà Nguyễn Gia H có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, nếu ông Phan Quốc K chậm trả tiền thì còn phải trả thêm tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Gia H - Phan Quốc K"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Gia H đối với ông Phan Quốc K về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DẦU TIẾNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2023/DS-ST
Ngày: 08-9-2023
V/v tranh chấp hợp đồng dân sự
vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Xuân Nam

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Lan

2. Ông Bùi Thanh Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Khuyến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Thìn - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 193/2023/TLST-DS ngày 12 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2023/QĐXXST-DS ngày 04/8/2023; Quyết định hoãn phiên tòa xét xử số 53/2023/QĐST-DS ngày 21/8/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Gia H, sinh năm 1998; hộ khẩu thường trú: Số 64, đường H, khu phố 4B, thị trấn D, huyện D, tỉnh B.

- Bị đơn: Ông Phan Quốc K, sinh năm 1985; hộ khẩu thường trú: Số 20, đường P, khu phố 1, thị trấn D, huyện D, tỉnh B.

Nguyên đơn bà Nguyễn Gia H có mặt. Bị đơn ông Phan Quốc K vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[- Theo đơn khởi kiện ngày 25/4/2023, quá trình tố tụng giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn (bà Nguyễn Gia H) trình bày:

Ông Phan Quốc K kết hôn với bà Đào Thạch Thảo V, sinh năm 1987 (quan hệ với bà Nguyễn Gia H là chị họ). Vì vậy, bà Nguyễn Gia H gọi ông Phan Quốc K là anh rể bà con.

Ngày 15/10/2022, ông Phan Quốc K có vay của bà Nguyễn Gia H số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) và ký tên xác nhận thể hiện tại chứng cứ “Giấy mượn tiền”. Ông Phan Quốc K là người trực tiếp lập trên cơ sở mẫu giấy A4 đánh máy in sẵn và ghi thêm nội dung thông tin người vay tiền, số tiền vay, thời hạn thanh toán và văn bản này được lập tại nhà của nguyên đơn bà H. Sau đó, ông Phan Quốc K đã đọc lại toàn bộ nội dung của văn bản này và tự nguyện ký tên xác nhận trước sự chứng kiến của bà H. Ông Phan Quốc K nói làm vay để làm ăn và nhận bằng tiền mặt.

Nội dung trong “giấy mượn tiền” ngày 15/10/2022 thỏa thuận là ông Phan Quốc K vay số tiền trên trong thời hạn 05 tháng và đến ngày 15/02/2023 sẽ thanh toán toàn bộ số tiền trên cho bà H. Hiện nay phía ông Phan Quốc K vẫn chưa thanh toán số tiền 100.000.000 đồng cho bà H. Vì vậy, bà H đã nhiều lần tìm kiếm và liên hệ nhưng không có gặp được ông K. Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Gia H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc ông Phan Quốc K phải thanh toán số tiền vay 100.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi xuất.

Ngoài ra, nguyên đơn không có tranh chấp gì khác.

- Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bị đơn (ông Phan Quốc K) trình bày: Do phía bị đơn không có mặt tham gia buổi hòa giải, xét xử nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến trình bày của bị đơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng phát biểu tại phiên tòa:

Quan hệ pháp luật của vụ kiện là “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”. Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng đúng đầy đủ, tiến hành tố tụng đúng trình tự thủ tục.

Về nội dung vụ án: Ngày 15/10/2022, ông Phan Quốc K viết giấy mượn tiền, ký tên và ghi họ tên Phan Quốc K với nội dung mượn của bà Nguyễn Gia H 100.000.000 đồng, không thỏa thuận lãi suất, không có công chứng, hẹn đến ngày 15/02/2023 trả. Đến nay, bà Nguyễn Gia H cho rằng ông Phan Quốc K đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên khởi kiện. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn ông Phan Quốc K không có mặt tại nhà để nhận các văn bản của Tòa án nên không ghi nhận được ý kiến của ông Phan Quốc K.

Căn cứ vào các chứng cứ của đương sự cung cấp, Toà án thu thập và quy định của pháp luật tại các Điều 463, 466, 470 Bộ luật dân sự chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Gia H, buộc bị đơn ông Phan Quốc K trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Gia H số tiền 100.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Theo đơn khởi kiện ngày 25/4/2023, nguyên đơn bà Nguyễn Gia H khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Phan Quốc K thanh toán số tiền vay 100.000.000 đồng. Căn cứ quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, việc xác định tư cách tham gia tố tụng là phù hợp quy định của pháp luật.

Quá trình xác minh thu thập chứng cứ thể hiện phía bị đơn ông Phan Quốc K hiện đăng ký hộ khẩu thường trú tại số 20, đường P, khu phố 1, thị trấn D, huyện D, tỉnh B nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a, khoản 1, Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”.

Tại phiên tòa bị đơn ông Phan Quốc K được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt ông Phan Quốc K theo quy định của pháp luật.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Ngày 15/10/2022, ông Phan Quốc K có vay của bà Nguyễn Gia H số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) và ký tên xác nhận thể hiện tại chứng cứ “Giấy mượn tiền”. Ông Phan Quốc K là người trực tiếp lập trên cơ sở mẫu giấy A4 đánh máy in sẵn và ghi thêm nội dung thông tin người vay tiền, số tiền vay, thời hạn thanh toán, văn bản này được lập tại nhà của nguyên đơn bà Nguyễn Gia H. Sau đó, ông Phan Quốc K đã đọc lại toàn bộ nội dung của văn bản này và tự nguyện ký tên xác nhận trước sự chứng kiến của bà H; chứng cứ này được lập thành 01 bản và giao cho nguyên đơn cất giữ. Nội dung trong “giấy mượn tiền” ngày 15/10/2022 thỏa thuận là ông Phan Quốc K vay số tiền trên trong thời hạn 05 tháng và đến ngày 15/02/2023 sẽ thanh toán toàn bộ số tiền trên cho bà Nguyễn Gia H nhưng hiện nay phía ông Phan Quốc K không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập bị đơn ông Phan Quốc K làm việc, đồng thời tiến hành niêm yết công khai chứng cứ “Giấy mượn tiền” ngày 15/10/2022. Đến ngày 31/5/2023 nguyên đơn bà Nguyễn Gia H có đơn yêu cầu Tòa án tiến hành giám định chữ ký tên của bị đơn trên chứng cứ “Giấy mượn tiền” ngày 15/10/2022. Tòa án huyện Dầu Tiếng đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 10/2023/QĐ-TCGĐ ngày 15/6/2023 giám định chữ ký tên của bị đơn tại Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B. Tại Kết luận giám định số 259/KL-KTHS (TL) ngày 02/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B kết luận chữ ký, chữ viết họ tên “Phan Quốc K” dưới mục “người mượn tiền” trên “Giấy mượn tiền” ngày 15/10/2022 so với chữ ký tên “Phan Quốc K” trên các tài liệu giám định là do cùng một người ký ra. Sau đó, Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ để đảm bảo quyền lợi của mình nhưng bị đơn vẫn cố tình vắng mặt, tự ý từ bỏ quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử không xem xét ý kiến của bị đơn. Vì vậy, có đủ căn cứ xác định bị đơn có vay của nguyên đơn số tiền 100.000.000 đồng là hoàn toàn có thật và đến thời hạn thanh toán phía ông Phan Quốc K không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết, cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ là vi phạm Điều 463, 466, 470 Bộ luật dân sự năm 2015. Từ những phân tích nêu trên, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Gia H là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa về phần thủ tục tố tụng và nội dung vụ án là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về chi phí tố tụng:

- Chi phí giám định: Số tiền 1.020.000 đồng (một triệu không trăm hai mươi ngàn đồng) theo phiếu thu ngày 13/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B.

- Chi phí đi lại 02 lần: Số tiền 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm ngàn đồng).

Hiện tại nguyên đơn đã nộp tạm ứng tổng số tiền 2.220.000 đồng (hai triệu hai trăm hai mươi ngàn đồng). Vì vậy, buộc bị đơn ông Phan Quốc K phải hoàn trả số tiền 2.220.000 đồng cho nguyên đơn.

Về án phí: Bị đơn ông Phan Quốc K phải chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận. Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Gia H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.500.000 đồng theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 4, 5, 26, 35, 39, 68, 147, 186, 235, 244, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 463, 466, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Gia H đối với ông Phan Quốc K về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”.

Buộc ông Phan Quốc K có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Gia H số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).

Kể từ ngày bà Nguyễn Gia H có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, nếu ông Phan Quốc K chậm trả tiền thì còn phải trả thêm tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

2. Chi phí giám định: Nguyên đơn đã nộp tạm ứng số tiền 2.220.000 đồng (hai triệu hai trăm hai mươi ngàn đồng). Vì vậy, buộc bị đơn ông Phan Quốc K phải hoàn trả số tiền 2.220.000 đồng cho nguyên đơn bà Nguyễn Gia H.

3. Án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Phan Quốc K phải nộp số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).

- Hoàn trả cho bà Nguyễn Gia H 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0011726 ngày 10/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 08/9/2023).

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ