- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng thương mại cổ phần K khởi kiện ông Cấn Văn M và bà Nguyễn Thị H"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Các điều 122, 281, 290, 302, 305, 342, 343, 344, 351, 355, 471, 473, 474, 715, 721 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Các điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 130 Luật Đất đai năm 2003.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị định số 11/2012/NĐ-CP Về sửa đổi, bổ sung một số điều c…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 93/2023/DS-ST. Ngày: 24/7/2023. V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Khuất Đăng Cường
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Văn Tần.
2. Ông Nguyễn Văn Miến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Quỳnh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thủy Tiên- Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 150/2022/TLST-DS ngày 16 tháng 11 năm 2022 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2023/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 5 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2023/QĐST-DS ngày 16/6/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2023/QĐST-DS ngày 17/7/2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần K
Địa chỉ: Số 6 phố Quang Trung, phường Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Hùng A – Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị N – Giám đốc xử lý nợ.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Bà Vương Ngọc N – Nhân viên xử lý nợ. Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Cấn Văn M, sinh năm 1984; bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Thôn P, xã B, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Cháu Cấn Thị Ngọc L, sinh năm 2006;
- Cháu Cấn Thị Ngọc A, sinh năm 2008;
- Cháu Cấn Đức H, sinh năm 2011.
Địa chỉ: Thôn P, xã B, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.
Ông M và bà H là người đại diện hợp pháp của cháu Linh, Ánh, Huy.
Ông M có mặt, bà H vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiệncủa Ngân hàng TMCP K và các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án như sau:
Ngày 02/7/2011, Ngân hàng TMCP K (gọi tắt là Techcombank) đã ký với ông Cấn Văn M, bà Nguyễn Thị H các Hợp đồng cung ứng hạn mức ứng trước tài khoản cá nhân: 2687/HĐƯT-F1/TCB-HTY, số tiền hạn mức ứng trước 300.000.000 đồng được giải ngân vào tài khoản cá nhân của ông M bà H số 12924375900011 tại Techcombank Hà Tây để sử dụng hạn mức tín dụng, mục đích: tiêu dùng. Thời hạn vay: 12 tháng từ ngày 05/7/2011 đến hết ngày 05/7/2012. Lãi suất vay: Lãi suất cố định 21%/năm áp dụng trong thời gian hiệu lực của Hợp đồng này. Lãi quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của ông M và bà H tại VIB gồm: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số thửa đất số: 146 tờ bản đồ số: 12, diện tích 116,7m2 hình thức sử dụng riêng, mục đích sử dụng: đất ở nông thôn, thời hạn sử dụng: lâu dài, tại địa chỉ: Thôn Phú Ổ, xã Bình Phú, huyện Thạch Thất, Hà Nội. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BB 494142, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00064, do UBND huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội cấp ngày 21/3/2011. Hợp đồng thế chấp tài sản số công chứng: 4127, quyển số 03.2011 ký ngày 02/7/2011 tại Phòng công chứng số 7, thành phố Hà Nội.
Quá trình thực hiện hợp đồng, đến ngày 28/11/2011 ông Cấn Văn M, bà Nguyễn Thị H chỉ trả được cho Techcombank 39.213.552đồng tiền lãi từ đó ông M và bà H không thanh toán cho Techcombank nữa. Techcombank đã nhiều lần đôn đốc ông M và bà H thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo đúng cam kết nhưng ông bà đã không thực hiện theo yêu cầu của vi phạm nội dung thỏa thuận tại HĐHM đã ký.
Tại phiên tòa, Ngân hàng xác định đến ngày 15/7/2023, Ông M và bà H còn nợ Techcombank số tiền gốc 300.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 55.457.031 đồng, nợ lãi quá hạn 1.056.824.997 đồng, lãi phạt chậm trả 195.361.256 đồng, tổng cộng là 1.607.643.284 đồng. Ngân hàng xin rút toàn bộ các yêu cầu sau: Khoản tiền phạt vi phạm hợp đồng số tiền là: 3.000.000 đồng; Khoản tiền phạt chậm trả là 195.361.256 đồng.
Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
1. Buộc ông Cấn Văn M và bà Nguyễn Thị H thanh toán cho Techcombank tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 15/7/2023 là: 1.412.282.028 đồng. Trong đó: Nợ gốc 300.000.000 đồng, Nợ lãi trong hạn 55.457.031đồng, Nợ lãi quá hạn 1.056.824.997 đồng và các khoản lãi phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng cung ứng hạn mức ứng trước tài khoản cá nhân và cam kết trả nợ đã ký giữa Nguyên đơn và Bị đơn kể từ ngày 16/7/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
2. Kể từ ngày Quyết định/bản án có hiệu lực pháp luật, Bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nợ thì Techcombank có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên, phát mại toàn bộ tài sản bảo đảm của khoản vay để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho Techcombank.
3. Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của Bị đơn đối với Techcombank. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì Bị đơn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Techcombank.
4. Về án phí: Buộc bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về chi phí tố tụng: Ngân hàng tự nguyện chịu chi phí tố tụng đã nộp tạm ứng tại Tòa án.
Tại văn bản ngày 12/01/2023 ông Cấn Văn M trình bày:
Năm 2011, ông và vợ là bà Nguyễn Thị H có giao kết Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP K với số tiền hạn mức là 300.000.000đồng. Để đảm bảo cho khoản vay trên thì ông M bà H có thế chấp thửa đất số 146, tờ bản đồ số 12 tại thôn Phú Ổ, xã Bình Phú, huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội. Quá trình thực hiện hợp đồng ông M đã trả được cho Ngân hàng khoảng 66.000.000đồng tiền lãi. Nay Ngân hàng khởi kiện ông đề nghị Tòa án gia hạn thời gian giải quyết vụ án thêm 5 tháng nữa để ông ra tù sẽ sắp xếp giải quyết vụ án. Ông xin trả nợ gốc và đề nghị Ngân hàng miễn toàn bộ lãi.
Tại phiên tòa, Ông M và bà H xác nhận nợ như Ngân hàng trình bày là đúng và đề nghị cho ông bà trả nợ gốc và xin miễn tòa bộ lãi để ông bà tất toán khoản vay.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự: Việc Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, đúng pháp luật. Việc xác định quan hệ pháp luật và tư cách người tham gia tố tụng là đúng pháp luật. Việc chuyển hồ sơ, cấp tống đạt văn bản tố tụng đúng pháp luật.
Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều Các Điều 117, 119, 275, 280, 292, 295, 296, 299, 318, 319, 351, 357, 463, 465, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Các điều 91, 95 và 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Ngày 16 tháng 11 năm 2022, Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội thụ lý vụ án dân sự số 150/2022/TLST-DS, giữa nguyên đơn là Ngân hàng Ngân hàng TMCP K với bị đơn là ông Cấn Văn M, bà Nguyễn Thị H (Địa chỉ xã Bình Phú, huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội) và yêu cầu Tòa án buộc bị đơn trả nợ gốc, lãi theo Hợp đồng cung ứng hạn mức ứng trước tài khoản cá nhân: 2687/HĐƯT-F1/TCB-HTY giữa Ngân hàng với ông Cấn Văn M, bà Nguyễn Thị H. Đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng, mục đích vay tiền để tiêu dùng nên được xác định là loại vụ án dân sự. Bị đơn hiện đang cư trú tại huyện Thạch Thất. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 30; Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất.
Về việc xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Quá trình giải quyết vụ án và sau khi Thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 177 và Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng ông M, bà H vắng mặt không đến Tòa là đã từ bỏ quyền và không chấp hành nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng, vi phạm nghĩa vụ của đương sự được quy định tại Điều 70, 72, 73 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã hoãn phiên tòa 02 lần. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán tổng số tiền nợ gốc tính đến ngày 15/7/2023 là 300.000.000 đồng thấy rằng:
Ông Cấn Văn M, bà Nguyễn Thị H đã ký Hợp đồng cung ứng hạn mức ứng trước tài khoản cá nhân: 2687/HĐƯT-F1/TCB-HTY ngày 02/7/2011 (gọi tắt là Hợp đồng hạn mức) với Ngân hàng TMCP K. Techcombank đã giải ngân cho Ông M và bà H vay số tiền 300.000.000 đồng.
Quá trình vay vốn, Ông M và bà H không trả được cho Ngân hàng số đồng nợ gốc nào. Tính đến ngày 15/5/2023 Ông M và bà H còn nợ Ngân hàng tổng số tiền nợ gốc là 300.000.000 đồng.
Căn cứ vào các tài liệu do nguyên đơn xuất trình và lời khai của ông Cấn Văn M xác nhận: xuyên suốt quá trình vay vốn Ông M và bà H chưa trả được cho Ngân hàng số tiền nợ gốc nào. Do vậy, xác định đến thời điểm hiện tại Ông M và bà H còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc là 300.000.000 đồng và buộc Ông M và bà H phải trả tiền nợ gốc này theo yêu cầu của Ngân hàng.
Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả khoản nợ lãi tại Hợp đồng cung ứng hạn mức ứng trước tài khoản cá nhân: 2687/HĐƯT-F1/TCB-HTY ngày 02/7/2011 tính đến ngày 15/7/2023 gồm nợ lãi trong hạn 55.457.031 đồng, nợ lãi quá hạn 1.056.824.997 đồng, lãi phạt chậm trả 195.361.256 đồng, thấy rằng:
Xét Hợp đồng cung ứng hạn mức ứng trước tài khoản cá nhân đã ký giữa các bên đều có thỏa thuận mức lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn, lãi suất chậm trả (Lãi trên lãi) và mức điều chỉnh lãi suất. Xét các mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận là phù hợp với lãi suất quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại thời điểm ký hợp đồng, phù hợp với hướng dẫn tại Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng và Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất. Do vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả các khoản tiền lãi theo Hợp đồng hạn mức đã ký là có căn cứ nên được chấp nhận.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng xuất trình theo Hợp đồng hạn mức thì tính đến ngày 15/7/2023 ông M và bà H còn phải trả các khoản lãi gồm: lãi trong hạn: 55.457.031 đồng, lãi quá hạn 1.056.824.997 đồng; tổng 1.112.282.028 đồng. Ông M và bà H phải tiếp tục trả cho Ngân hàng các khoản nợ lãi phát sinh kể từ ngày 16/7/2023 đối với số tiền nợ gốc theo mức lãi suất được thỏa thuận trong Hợp đồng hạn mực cho đến khi trả hết nợ gốc.
Xét yêu cầu về xử lý tài sản bảo đảm của nguyên đơn, thấy rằng:
Để đảm bảo cho toàn bộ khoản vay trên thì Ông M và bà H đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số công chứng 4127 quyển số 03.2011 ký ngày 02/7/2011 tại Phòng công chứng số 7, Thành phố Hà Nội. Đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Hà Nội- Chi nhánh huyện Thạch Thất ngày 05/7/2011: Quyền sử dụng đất thửa số 146, tờ bản đồ số: 12, mục đích sử dụng đất ở tại nông thôn, thời hạn sử dụng: lâu dài, tại địa chỉ: Thôn Phú Ổ, xã Bình Phú, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB494142, vào sổ cấp GCN số : 00064 do UBND huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội cấp ngày 21/3/2011.
Tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất có đầy đủ chữ ký của bên thế chấp và bên nhận thế chấp. Hợp đồng thế chấp được thực hiện công chứng bởi Văn phòng công chứng số 7, Thành phố Hà Nội, đồng thời bên thế chấp cũng đã làm thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Hà Nội- Chi nhánh huyện Thạch Thất theo đúng quy định của pháp luật.
Như vậy, Hợp đồng thế chấp của bên thế chấp với Techcombank là hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối hay ép buộc, nội dung thỏa thuận phù hợp Điều 343 Bộ luật Dân sự năm 2005, điểm c, khoản 1 Điều 10 và điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm nên có hiệu lực thi hành kể từ thời điểm ký kết và đăng ký giao dịch bảo đảm. Tại Điều 2 của các hợp thế chấp quy định nghĩa vụ được bảo đảm của tài sản thế chấp bao gồm toàn bộ các nghĩa vụ trả nợ của bên vay tại Techcombank theo Hợp đồng số: 2687/HĐƯT-F1/TCB-HTY ngày 02/7/2011. Theo điều 5 của các Hợp đồng thế chấp trên có qui định các trường hợp bên vay vi phạm bất kỳ một nghĩa vụ trả nợ nào thì bên Ngân hàng có quyền áp dụng các biện pháp xử lý tài sản thế chấp theo đúng quy định của pháp luật để thu hồi nợ. Nay Ông M và bà H vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Techcombank yêu cầu xử lý các tài sản thế chấp trên để thu hồi nợ là có căn cứ và đúng pháp luật nên được chấp nhận.
. Về án phí, chi phí tố tụng:
- Về chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện của Ngân hàng chịu toàn bộ tiền chi phí tố tụng và được trừ vào toàn bộ số tiền đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng.
- Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận là 54.368.460 đồng (Làm tròn 54.368.000đồng). Theo quy định tại các Điều 143, 144, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Các điều 122, 281, 290, 302, 305, 342, 343, 344, 351, 355, 471, 473, 474, 715, 721 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Các điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 130 Luật Đất đai năm 2003.
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 40; các điều 144, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006; Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K.
- Buộc ông Cấn Văn M, bà Nguyễn Thị H phải thanh toán trả cho Techcombank số tiền còn nợ theo Hợp đồng cung ứng hạn mức ứng trước tài khoản cá nhân: 2687/HĐƯT-F1/TCB-HTY ngày 02/7/2011 tính đến ngày 15/7/2023 là 1.412.282.028 đồng. Trong đó: Nợ gốc 300.000.000 đồng, Nợ lãi trong hạn 55.457.031đồng, Nợ lãi quá hạn 1.056.824.997 đồng
Kể từ ngày 16/7/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ, Ông M và bà H còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng hạn mức cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng cho vay, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Trường hợp ông M và bà H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Techcombank có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất, các quyền và lợi ích phát sinh từ thửa đất số: 146, tờ bản đồ số: 12, mục đích sử dụng đất ở tại nông thôn, thời hạn sử dụng: lâu dài, tại địa chỉ: Thôn Phú Ổ, xã Bình Phú, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB494142, vào sổ cấp GCN số : 00064 do UBND huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội cấp ngày 21/3/2011. Hợp đồng thế chấp tài sản của bên thứ ba số công chứng: 4127 quyển số 03.2011 ký ngày 02/7/2011 tại Phòng công chứng số 7, Thành phố Hà Nội.
Trường hợp phải xử lý tài sản thế chấp thì ngoài các đương sự có tên trên, các cá nhân, tổ chức nào đang thực tế sử dụng, sinh sống tại diện tích đất nêu trên cũng phải thực hiện nghĩa vụ dời đi chỗ khác để đảm bảo việc thi hành án.
Trường hợp sau khi xử lý tài sản bảo đảm vẫn không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì ông Cấn Văn M, bà Nguyễn Thị H phải tiếp tục chịu trách nhiệm trả số nợ còn lại cho Ngân hàng TMCP K.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về án phí, chi phí tố tụng:
Về án phí: Ông Cấn Văn M, bà Nguyễn Thị H phải chịu: 54.368.000đồng (Năm mươi tư triệu ba trăm sáu mươi tám nghìn đồng), án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn lại Techcombank số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 28.569.000đồng (Hai mươi tám triệu năm trăm sáu mươi chín nghìn đồng), theo biên lai thu số AA/2020/0025630 ngày 16/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.
Về chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện của Ngân hàng TMCP K chịu toàn bộ tiền chi phí tố tụng và được trừ vào toàn bộ số tiền đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hà Nội; - VKSND huyện Thạch Thất; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, Văn phòng. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Khuất Đăng Cường THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Khuất Đăng Cường |