vanban.org

Bản án 93/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 30/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố, bị cáo Nguyễn Như N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Note 8 màu xanh, số Imei 1: 358335082289412, số Imei 2: 358335082289412, gắn sim có mã số: 8984 04800 03161 92773, của sim số 0… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Như N - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố, bị cáo Nguyễn Như N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẢO LỘC
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2022/HS-ST
Ngày:
30/8/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Quảng;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Việt, bà Nguyễn Thị Thanh Hòa.

- Thƣ ký phiên tòa: Ông Đặng Khắc Cường - Là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 83/2022/TLST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2022/QĐXXST-HS, ngày 17 tháng 8 năm 2022, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Nhƣ N; sinh năm 1988; nơi sinh: Đồng Nai; nơi đăng ký thường trú và cư trú: Số 35 đường T, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Thợ may; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Như Đ, sinh năm 1952 và bà Trần Thị T, sinh năm 1956; hiện trú tại phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; vợ tên là Phạm Thị Ngọc Tr (đã ly hôn); bị cáo có 01 người con, sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không. Về nhân thân: Ngày 26/5/2008 bị Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 03 năm tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý”, đã được xóa án tích (bản án số 45/2008/HSST). Ngày 19/6/2012 Ủy ban nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời gian 24 tháng (Quyết định số 1672/QĐ-UBND), đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Ngày 10/02/2015 bị Toà án nhân dân thành phố Bảo Lộc xử phạt 18 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”, đã được xóa án tích (bản án số 13/2015/HSST). Ngày 14/9/2018 bị Toà án nhân dân thành phố Bảo Lộc xử phạt 15 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 02/8/2019, đã được xóa án tích. Bị cáo tại ngoại (có mặt).

- Bị hại: Chị Tống Thu Th, sinh năm 1999; địa chỉ: Số 128 đường Tr, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).

- Người làm chứng: Anh Hồ Sỹ Th1, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ dân phố X, thị trấn D, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 09/05/2022, Nguyễn Như N đi bộ trên đường Trần Quốc Toản, phường B’Lao hướng ra phía bờ hồ Bảo Lộc. Khi đi đến gần giao lộ với đường Trần Phú thì N đón xe ôm của một người đàn ông (không rõ lai lịch) đi vào xã Lộc Thành, huyện Bảo Lâm. Khi xe ôm chạy ngang qua nhà chị Tống Thu Th, số X đường Tr, phường L, thành phố B thì N nhìn thấy cửa nhà đang mở nên N nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Để thực hiện ý định, N nói người chạy xe ôm dừng lại và yêu cầu người này đợi phía trước, còn N đi vào trong nhà thì phát hiện có 01 điện thoại hiệu Iphone 13, màu hồng đang để trên kệ dép, sát với cửa nhà. N lấy chiếc điện thoại trên bỏ vào túi quần rồi đi ra đường lên xe ôm quay về bờ hồ Bảo Lộc; tại đây N trả tiền công cho người xe ôm là 35.000đ, rồi xuống xe đi về nhà.

Sau đó, N gọi điện cho anh Hồ Sỹ Th1, là chủ tiệm điện thoại “Tú Thương”, tại địa chỉ: Tổ X, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, nhờ anh Th1 bẻ khóa điện thoại thì anh Th1 đồng ý. Hai bên thỏa thuận tiền công là 6.000.000đ, sau đó N gửi chiếc điện thoại qua nhà xe Tám Th, do anh Đỗ Văn Chiến là tài xế mang xuống huyện Đạ Tẻh đưa cho anh Th1. Nhận được điện thoại nói trên, anh Th1 mang bẻ khóa nhưng không được, đến ngày 11/5/2022 thì bị Cơ quan điều tra Công an thành phố Bảo Lộc thu giữ. Theo kết luận định giá ngày 12/05/2022, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thì chiếc điện thoại hiệu Iphone 13, màu hồng trị giá 17.000.000đ.

Về vật chứng: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã tạm giữ sau đó trả lại chiếc điện thoại hiệu Iphone 13 cho chị Tống Thu Th. Hiện đang tạm giữ 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Note 8 màu xanh, gắn sim số 0966609270 của bị cáo N. Về trách nhiệm dân sự: Chị Tống Thu Th đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì.

Tại bản Cáo trạng số 97/CT-VKSBL ngày 02 tháng 8 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố bị cáo Nguyễn Như N về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015. Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Như N từ 15 đến 18 tháng tù. Xét bị cáo N hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung. Về xử lý vật chứng, đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Note 8 màu xanh. Bị cáo Nguyễn Như N khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nêu, bị cáo không thắc mắc, khiếu nại gì về nội dung Cáo trạng, thấy đúng với tội của mình, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an thành phố Bảo Lộc; của Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo qui định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo N không thắc mắc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử thấy rằng, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng qui định của pháp luật.

Về căn cứ xác định tội: Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Như N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, nhân chứng, vật chứng thu giữ, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định: Vào ngày 09/05/2022, Nguyễn Như N đã thuê xe ôm đi từ phường B’Lao, thành phố Bảo Lộc vào xã Lộc Thành, huyện Bảo Lâm. Khi xe chạy ngang qua số nhà X đường Tr, phường L, thành phố Bảo Lộc, do chị Tống Thu Th làm chủ, quan sát thấy nhà đang mở cửa nên N nói người xe ôm dừng lại đứng chờ, còn mình đi vào trong trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 của chị Tống Thu Th, có trị giá tài sản là 17.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo N đã phạm vào tội “trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được qui định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo lộc đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như Cáo trạng là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội: Bị cáo Nguyễn Như N là người đã trưởng thành, có đầy đủ nhận thức; bị cáo biết rõ việc trộm cắp tài sản của người khác là hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật nghiêm cấm nhưng chỉ vì lòng tham, muốn chiếm đoạt tài sản của người khác để lấy tiền tiêu xài nên bị cáo cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần xét xử bị cáo một hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Như N là người có nhân thân xấu, có nhiều tiền án tiền sự; tuy đã được xóa án nhưng bị cáo không thấy đó là bài học mà tiếp tục phạm tội. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo N thật thà khai báo nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tạm giữ sau đó trả lại chiếc điện thoại Iphone 13 cho chị Tống Thu Th là phù hợp nên không đề cập đến. Riêng đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Note 8 màu xanh, gắn sim số 0966609270, tạm giữ của bị cáo N. Xét thấy bị cáo đã dùng chiếc điện thoại này để liên lạc với anh Hồ Sỹ Th1, thuê anh Th1 bẻ khóa chiếc điện thoại trộm cắp của chị Th, vì vậy cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Tống Thu Th đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì nên không đề cập đến.

Trong vụ án này còn có anh Đỗ Văn Chiến là người nhận vận chuyển chiếc điện thoại cho bị cáo, anh Hồ Sỹ Th1 là người được bị cáo thuê bẻ khóa chiếc điện thoại trộm cắp của chị Th. Tuy nhiên, các anh đều không biết nguồn gốc tài sản do phạm tội mà có, vì vậy không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh Chiến và anh Th1 là phù hợp. Đối với người đàn ông (chưa rõ lai lịch), chạy xe ôm chở bị cáo đi trộm cắp. Do quá trình điều tra chưa xác minh được lai lịch đối tượng, vì vậy cần tách ra, khi nào xác minh làm rõ sẽ xử lý sau.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo N hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung.

Về án phí: Buộc bị cáo N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố, bị cáo Nguyễn Như N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Nhƣ N 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi thành án.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Note 8 màu xanh, số Imei 1: 358335082289412, số Imei 2: 358335082289412, gắn sim có mã số: 8984 04800 03161 92773, của sim số 0966609270. (Theo biên bản giao nhận ngày 08/8/2022, giữa Cơ quan điều tra Công an thành phố Bảo Lộc với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui định về án phí, lệ phí tòa án, buộc bị cáo N phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Đối với người vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ