- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Trần Văn P phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 93/2022/HS - ST Ngày 22 - 8 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tấn Tám
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Quang Thái
Bà Lê Thị Bích Thuần
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Phượng- Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Vũ Lan Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 87/2022/TLST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2022/QĐXXST - HS ngày 11 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Trần Văn P, sinh ngày 10 tháng 01 năm 1997; tại xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Khu Đ, xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn V và bà Đỗ Thị L; vợ, con: chưa có;
Tiền án: Có 02 tiền án.
+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 199/2018/HS-ST ngày 09 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân Quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, trị giá tài sản trộm cắp là 17.500.000 đồng, buộc P phải thi hành khoản án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và án phí dân sự trong án hình sự là 300.000 đồng, bồi thường cho bị hại số tiền là 2.500.000 đồng; tháng 4 năm 2021, bị cáo đã thi hành xong khoản án phí, chưa chấp hành xong khoản bồi thường.
+Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 94/2019/HS - ST ngày 09 tháng 05 năm 2019 của Tòa án nhân dân Quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, xử phạt bị cáo 18 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” giá trị tài sản chiếm đoạt là 17.000.000 đồng, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, truy thu của bị cáo số tiền 3.000.000 đồng. Hành vi trộm cắp tài sản theo Bản án số 199/2018/HS - ST ngày 19 tháng 11 năm 2018 Tòa án nhân dân Quận Bắc Từ Liêm xử bị cáo 9 tháng tù, xảy ra sau nhưng lại được xét xử trước nên tại bản án số 94/2019/HS - ST ngày 09 tháng 05 năm 2019 bị cáo không bị áp dụng tình tiết tái phạm mà chỉ tổng hợp hình phạt của Bản án số 199/2018/HS - ST ngày 09 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân Quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cả hai bản án là 27 tháng tù. Bị cáo đã thi hành xong khoản án phí hình sự sơ thẩm, chưa thi hành xong khoản truy thu của bản án số 94/2019/HS- ST; ngày 15 tháng 11 năm 2020 P đã chấp hành xong toàn bộ hình phạt tù của 02 bản án và chưa được xóa án tích
Tiền sự: Không
Nhân thân: Bản án số 332/2013/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2013 của Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 05 năm tù về tội Cướp tài sản, trị giá tài sản chiếm đoạt là 504.000 đồng và thi hành khoản án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng. Ngày 18 tháng 6 năm 2014, đã chấp hành xong khoản án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 31 tháng 8 năm 2015, đã chấp hành xong án phạt tù. Tại thời điểm phạm tội, do bị cáo chưa thành niên và đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22 tháng 5 năm 2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc, “có mặt”.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn P, bà Kim Hồng Thanh, Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Vĩnh Phúc, “có mặt”.
-Bị hại: Anh Đào Văn T, sinh năm: 2000; địa chỉ: Thôn S, xã P, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang, “vắng mặt”.
-Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
-Anh Phùng Gia A, sinh năm 2004.
Địa chỉ: Thôn L, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt”.
-Người tham gia tố tụng khác
Người làm chứng:
-Anh Phạm Văn H, sinh năm 2001, “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn P và anh Đào Văn T quen biết nhau. P biết anh T có chiếc xe mô tô Honda Winner X, biển kiểm soát 22B2- 638.28 nên P đã nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của anh T để mang đi bán lấy tiền chi tiêu. Khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 23 tháng 10 năm 2021, P đã gọi điện thoại rủ anh T đến phòng trọ của mình tại khu nhà trọ của ông Lê Văn Thể, ở thôn Hương Đà, xã Thiện Kế, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc chơi, T đã đồng ý. Khi T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 22B2-638.28 đến phòng trọ của P thì thấy có anh Phạm Văn H đang chơi ở phòng trọ của P. Tại đây P đã nói dối anh T: “cho anh mượn xe về xin giấy xác nhận nhân sự”. Anh T hỏi P “anh mượn bao lâu”, thì P trả lời: “một tiếng sau anh quay lại” Anh T tin tưởng và đồng ý cho P mượn xe mô tô cùng giấy tờ xe được để trong cốp xe. Sau đó, P đã điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 22B2-638.28 đến của hàng mua bán điện thoại di động Nguyễn Thái Mobile của anh Phùng Gia A, ở địa chỉ thôn Quảng Thiện, xã Thiện Kế, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc và gặp anh để bán xe mô tô vừa chiếm đoạt được của anh T. Khi được hỏi về nguồn gốc, P đã nói dối là xe của P, mua lại, chưa kịp làm thủ tục sang tên, đổi chủ, nay có việc cần tiền nên P mang đi bán và đưa Giấy đăng ký xe cho Phùng Gia A để kiểm tra, anh A kiểm tra giấy đăng ký trùng khớp với xe và tin tưởng lời P nói là thật nên cả hai đã thống nhất mua bán chiếc xe mô tô với giá 25.500.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, P đã bỏ trốn xuống Hà Nội và sử dụng số tiền này để chi tiêu cá nhân hết.
Anh T và anh H vẫn chờ ở phòng trọ của P, khi đến hẹn mà không thấy P về trả xe đã liên lạc nhiều lần với P nhưng đều không liên lạc được, do đó anh T và anh H đã ra về. Đến ngày 15 tháng 02 năm 2022, anh T đã phát hiện có người đi xe mô tô của mình ở thôn Ngũ Hồ, xã Thiện Kế, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc nên đã đến cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Xuyên để trình báo.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe mô tô biển kiểm soát: 22B2-638.28, 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển kiểm soát: 22B2-638.28 và 01 Giấy mua bán xe giữa Phương và anh Phùng Gia A.
Cơ quan cảnh sát điều tra đã trưng cầu định giá tài sản đối với xe mô tô mà bị cáo đã chiếm đoạt của anh T; tại Kết luận định giá tài sản số 23/KL – HĐĐGTA, ngày 02 tháng 3 năm 2022 kết luận: 01 xe mô tô Honda Winner X màu đỏ- đen- bạc, biển kiểm soát: 22B2-638.28 trị giá 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng). Sau khi vụ án bị phát hiện, đến ngày 22 tháng 5 năm 2022 Trần Văn P đã đến Công an huyện Bình Xuyên đầu thú về hành vi phạm tội của mình.
Tại Cáo trạng số 94/CT-VKSBX ngày 05 tháng 8 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố Trần Văn P về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự; tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Trần Văn P từ 02 năm, đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 22 tháng 05 năm 2022; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự, đề nghị buộc bị cáo phải trả cho anh Phùng Gia A số tiền 25.500.000 đồng (Hai mươi lăm triệu năm trăm nghìn đồng).
Ý kiến của những người tham gia tố tụng:
Người bào chữa cho bị cáo là bà Kim Hồng Thanh trình bày: Bị cáo văn hóa thấp, nhận thức pháp luật hạn chế, hoàn cảnh khó khăn do bố chết sớm phải bỏ về quê mẹ sinh sống, bị cáo cư trú trên địa bàn có điều kiện kinh tế khó khăn nên thực hiện hành vi phạm tội, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình và ra đầu thú do đó người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng mức án 01 năm 06 tháng tù.
Bị hại là anh Đào Văn T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Phùng Gia A, người làm chứng là anh Phạm Văn H vắng mặt tại phiên tòa xong tại Cơ quan cảnh sát điều tra đã có lời khai đầy đủ, phù hợp với lời khai của bị cáo và tài liệu chứng cứ đã thu thập được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Xuyên của Điều tra viên và của Viện kiểm sát nhân dân dân huyện Bình Xuyên, của Kiểm sát viên, của người bào chữa cho bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử được thực hiện đầy đủ, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, các đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi của cơ quan, người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên. Bị cáo khai nhận: Vào khoảng 09 giờ, 00 phút, ngày 23 tháng 10 năm 2021 tại khu nhà trọ của ông Lê Văn Thể ở thôn Hương Đà, xã Thiện Kế, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, bị cáo đã nói dối anh Đào Văn T để mượn xe mô tô của anh T đi về nhà làm giấy xác nhận nhân sự, sau đó chiếm đoạt xe mô tô Honda Winner X biển kiểm soát: 22B2 -638.28 cùng giấy tờ xe của anh T, đem bán cho anh Phùng Gia A để lấy tiền chi tiêu cá nhân, dẫn đến không có khả năng trả lại, sau đó đã bỏ trốn khỏi địa phương; trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt của anh T là 25.000.000 đồng, (Hai mươi lăm triệu đồng).
[3] Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản và vật chứng vụ án thu giữ được. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận hành vi gian dối của Trần Văn P để chiếm đoạt tài sản của anh T, đem bán lấy tiền chi tiêu cá nhân, đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; tội danh được quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Nội dung điều luật quy định:
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000đồng đến dưới 50.000.000đồng... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm...”
[4] Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng; xong hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện tính coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng đấu tranh phòng chống tội phạm.
[5] Xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, sau khi vụ án bị phát hiện, bị cáo đã ra đầu thú là căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo; tuy nhiên bị cáo phạm tội khi chưa được xóa án tích của bản án số 94/2019/HS-ST, ngày 09 tháng 5 năm 2019 của Tòa án nhân dân Quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội nên lần phạm tội này của bị cáo là “Tái phạm”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; mặt khác bị cáo có nhân thân xấu, đã 3 lần bị xét xử về hành vi chiếm đoạt tài sản, xong không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội về chiếm đoạt tài sản nên cần phải xử lý nghiêm minh đối với bị cáo, để bị cáo cải tạo, làm công dân có ích cho gia đình và xã hội. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và mức hình phạt đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo về mức hình phạt là không phù hợp, không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Đối với anh Phùng Gia A là người mua 01 xe mô tô Honda Winner X, biển kiểm soát: 22B2-638.28 của bị cáo. Khi mua bán do bị cáo nói dối là xe của mình, anh A đã kiểm tra giấy tờ trùng khớp với xe và tin lời bị cáo nói nên đã mua xe của bị cáo. Khi được cơ quan điều tra triệu tập làm việc và biết xe này là tài sản của P phạm tội mà có nên đã giao nộp cho cơ quan điều tra để phục vụ điều tra và trả lại cho người bị hại. Do đó, cơ quan cảnh sát điều tra không đề cập xử lý đối với Phùng Gia A là đúng.
Trách nhiệm dân sự đối với anh Phùng Gia A đã trả cho bị cáo số tiền 25.500.000đồng là tiền bị cáo đã bán chiếc xe mô tô Honda Winner X, biển kiểm soát: 22B2-638.28 của anh T; khi vụ án bị phát hiện, anh A đã giao nộp chiếc xe trên để phục vụ quá trình điều tra và yêu cầu bị cáo trả lại cho anh số tiền 25.500.000đồng; bị cáo nhất trí xong chưa có tiền để bồi thường cho anh A; nay cần buộc bị cáo phải trả lại cho anh A số tiền trên là phù hợp.
[7] Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác minh, làm rõ bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản gì nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Xử lý vật chứng:
Đối với mua 01 xe mô tô Honda Winner X, biển kiểm soát 22B2-638.28 cùng giấy tờ xe, qua quá trình điều tra được xác định là sở hữu hợp pháp của anh Đào Văn T. Ngày 11 tháng 07 năm 2022, cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe và giấy tờ nêu trên cho anh Đào Văn T là hợp pháp nên Hội đồng xét xử không xem xét
[9] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.275.000 đồng (Một triệu hai trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), án phí dân sự trong án hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Văn P 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 22 tháng 5 năm 2022.
Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự các Điều 585, 586 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự:
Buộc Trần Văn P phải trả cho anh Phùng Gia A số tiền 25.500.000 đồng (Hai mươi lăm triệu năm trăm nghìn đồng).
Khi anh Phùng Gia A có đơn yêu cầu thi hành án nếu Trần Văn P chưa thanh toán số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi, theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357 và 468 của Bộ luật Dân sự.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Văn P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.275.000 đồng (Một triệu hai trăm bảy mươi lăm nghìn) án phí dân sự trong vụ án hình sự.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự../. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND huyện Bình Xuyên;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA -Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
- CA huyện Bình Xuyên;
( Đã ký)
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc;
- Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc;
- Sở tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc
- Bị cáo;
Nguyễn Tấn Tám
- Chi cục THADS huyện Bình Xuyên;
- Lưu HSVA + VP.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN –
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Tấn Tám
Nguyễn Quang Thái Lê Thị Bích Thuần
| Nơi nhận: - VKSND huyện Bình Xuyên; -Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc; - CA huyện Bình Xuyên; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; - Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc; - Sở tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc - Bị cáo; - Chi cục THADS huyện Bình Xuyên; - Lưu HSVA + VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tấn Tám |