- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Nga - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2022/HS-ST ngày 13-01-2022 của Tòa án nhân dân huyện Bến C, t nh Tây N.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 93/2022/HS-PT Ngày: 15-6-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H XÃ H CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử Phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Tùng
Các Thẩm phán: Ông Trần Quốc Vũ
Bà Phạm Thị Hồng Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mến - Th
T a án nhân dân t nh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 6 năm 2022 tại Tòa án nhân dân t nh Tây N xét xử P thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2022/TLPT-HS ngày 21 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Thị N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2022/HS-ST ngày 13 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Bến C, t nh Tây N.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thị N (tên gọi khác: Ly KeAg), sinh ngày 08/5/1956, tại T phố Hồ Chí M. Hộ khẩu th ờng trú: Số 54, đ ờng Út Tịch, ph ờng 4, quận Tân B, T phố Hồ Chí M. Chỗ ở hiện nay: Tổ 9, đ ờng 360 (nay đ ờng Mai Thị Nhu), ấp Xóm C, xã Tân A H, huyện Củ C, T phố Hồ Chí M; nghề nghiệp: làm m ớn; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng T (đã chết) và bà Nguyễn Thị T (đã chết); có chồng thứ nhất: Phùng Hữu T, chồng thứ 2: Trừ Văn Đ (đã chết), sống nh vợ chồng với ông Đỗ Văn H (đã chết) và 03 ng ời con của ông Đỗ Văn H; tiền án: không có; tiền sự: không có; bị cáo tại ngoại có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo N: là bà Nguyễn Thị Kim D – Luật s của Công ty Luật trách nhiệm hữu hạn một T viên Đ DAh, thuộc Đoàn luật s T phố Hồ Chí M; có mặt.
Các bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị: không.
- Bị hại: Công ty trách nhiệm hữu hạn Thiện P; địa ch : tổ 8, ấp B, xã Tiên T, huyện Bến C, t nh Tây N. Ng ời đại diện theo pháp luật: Ông Trần Võ Lâm T; nơi c trú: 38/11, đ ờng Mai Thị Nhu, ấp Xóm C, xã Tân Thông H, huyện Củ C, T phố Hồ Chí M; có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quA: Ông Trần Võ Lâm T, sinh năm: 1972; nơi c trú: 38/11, đ ờng Mai Thị Nhu, ấp Xóm C, xã Tân Thông H, huyện Củ C, T phố Hồ Chí M; có mặt.
- Người làm chứng:
+ Ông Phạm Ngọc T, sinh năm 1968. Địa ch : Khu phố 5, ph ờng 4, T phố Tây N, t nh Tây N; vắng mặt
+ Ông Phạm Vũ C, sinh năm 1985. Địa ch : B395, khu phố 1, Khu phố Long B, ph ờng Long B, T phố Biên H, t nh Đồng N; vắng mặt.
+ Ông Nguyễn Văn Th ởng, sinh năm 1962. Địa ch : Số 244, ấp B H, xã B Trinh Đ, huyện Tân T, t nh Long A; vắng mặt.
+ Ông Trịnh Công S, sinh năm 1987. Địa ch : Ấp B, xã Tiên T, huyện Bến C, t nh Tây N; vắng mặt.
- Ng ời làm chứng triệu tập theo đề nghị của bị cáo Nguyễn Thị N:
+ Ông Nguyễn Nhật B, sinh năm 1971. Địa ch : Số 12, ấp Trâm Vàng 3, xã ThAh Ph ớc, huyện Gò Dầu, t nh Tây N; vắng mặt.
+ Ông Phạm Hữu Đ, sinh năm 1959. Địa ch : Số 25, Nguyễn Trọng Tuyển, ấp Bến M ơng, xã A Nhơn, huyện Củ C, T phố Hồ Chí M; vắng mặt.
+ Ông PhA Văn T, sinh năm: 1951. Địa ch : Ấp B, xã Tiên T, huyện Bến C, t nh Tây N; có mặt.
+ Chị Đỗ Ngọc C, sinh năm 2000. Địa ch : Tổ 9, đ ờng 360, ấp Xóm C, xã Tân A H, huyện Củ C, T phố Hồ Chí M; vắng mặt.
+ Ah Đỗ Nguyên A, sinh năm 2002. Địa ch : Tổ 9, đ ờng 360, ấp Xóm C, xã Tân A H, huyện Củ C, T phố Hồ Chí M; vắng mặt.
+ Ông Đặng Văn N, sinh năm 1974. Địa ch : Ấp B, xã Tiên T, huyện Bến C, t nh Tây N; vắng mặt.
+ Ông Đặng QuAg SAg, sinh năm 1968; địa ch : 65/21 Trần Đình Xu, ph ờng C Kho, Quận 1, T phố Hồ Chí M; có mặt.
NỘI D VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội D vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:
Ngày 27/12/2017 Công ty trách nhiệm hữu hạn Thiện P (gọi tắt: Công ty Thiện P), địa ch : tổ 8, ấp B, xã Tiên T, huyện Bến C, t nh Tây N, do ông Trần Võ Lâm T làm giám đốc. Khi mua đất T lập Công ty ông T mua một số cây tràm vàng trên đất với số tiền 2.000.000 đồng, đến tháng 9/2017 ông T thuê ng ời c a cây tràm vàng, cắt ra T nhiều đoạn để trong khuôn viên của Công ty Thiện P. Năm 2009, Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất phân vi sinh Phú Nông (gọi tắt: Công ty Phú Nông), địa ch số 02, khu phố 2, thị trấn Bến C, huyện Bến C, t nh Tây N do ông Trần Văn Sắng làm Chủ tịch H đồng T viên iêm Giám đốc. Công ty Phú Nông đăng thay đổi lần thứ 2 vào ngày 19/11/2009, do ông Đỗ Văn H làm Chủ tịch H đồng T viên (ông Đỗ Văn H là Ah ruột của ông Đỗ Văn Lâm, ông Lâm là cha vợ của ông Trần Võ Lâm T). Đến lần đăng thứ 3 vào ngày 13/7/2010 và các lần đăng sau Công ty Phú Nông có địa ch T sở chính tại ấp B, xã Tiên T, huyện Bến C, t nh Tây N. Nguyễn Thị N sống chung nh vợ chồng với ông Đỗ Văn H, đăng
ết hôn ngày 05/01/2004 tại xã Agkor Khnol, huyện ChrAg, t nh Ta Keo, V ơng quốc CampuCa. Tr ớc đó ông Đỗ Văn H có vợ là bà Vũ Thu Hà, sinh năm 1958, có đăng
ết hôn ngày 09/12/1983 tại Ủy bA nhân dân ph ờng 7, quận B Thạnh, T phố Hồ Chí M và có 02 ng ời con chung, đến ngày 28/02/2006, ông Đỗ Văn H và bà Vũ Thu Hà ly hôn theo Quyết định T tình ly hôn số: 79/2006/QĐ-VDS của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, T phố Hồ Chí M. Năm 2011, ông Đỗ Văn H có thuê nhà tại Công ty Thiện P để làm văn ph ng cho Công ty Phú Nông, ngày 15/02/2013 ông Đỗ Văn H chết, hông để lại di chúc. Sau khi ông Đỗ Văn H chết, Nguyễn Thị N có trAh chấp tài sản với gia đình ông Đỗ Văn Lâm, các yêu C khởi kiện đ ợc Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định. Trong các tài sản trAh chấp với gia đình ông Lâm có Cếc xe ô tô biển số: 52V-3007, đến ngày 28/01/2018 ông Lâm chết. Nguyễn Thị N th ờng đến văn ph ng Công ty Phú Nông có nhìn thấy Cếc xe ô tô biển số: 52V-3007 và gỗ tràm vàng để gần văn ph ng Công ty Phú Nông đAg thuê tại Công ty Thiện P.
Khoảng 16 giờ ngày 18/6/2018, Nguyễn Thị N gọi điện thoại thuê ông Phạm Ngọc T, sinh năm 1968, ngụ khu phố 5, ph ờng 4, T phố Tây N, t nh Tây N đến Công ty Thiện P để chở xe ô tô biển số: 52V-3007 và gỗ tràm vàng đến tr ờng dạy lái xe T Đ tại ấp A B, xã A Tịnh, huyện Trảng Bàng, t nh Tây N (nay là khu phố A B, ph ờng A Tịnh, thị xã Trảng Bàng, t nh Tây N) với tiền công vận chuyển là 2.000.000 đồng, ông T đồng ý. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 19/6/2018, Nguyễn Thị N gọi điện thoại nhờ ông Phạm Vũ C, sinh năm 1985, ngụ khu phố Long B, ph ờng Long B, T phố Biên H, t nh Đồng N, là con nuôi của N (theo cách x ng hô giữa 02 ng ời) dẫn đ ờng cho xe ô tô của ông T đi đến lấy xe ô tô biển số: 52V-3007 đem về sửa chữa và nói với ông C tr ớc khi lấy xe ô tô biển số 52V-3007 phải báo với chính quyền địa ph ơng, ông C đồng . Sau đó ông C gọi điện thoại cho ông Trịnh Công S, Công A viên phụ trách ấp B, xã Tiên T thông báo sẽ đến Công ty Thiện P lấy xe ô tô biển số: 52V-3007 về sửa chữa, ông S trả lời là đến Ủy bA nhân dân xã trình bày, ông không có thẩm quyền giải quyết. Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 19/6/2018, ông C dẫn đ ờng cho ông T điều khiển xe ô tô cẩu và một ng ời đàn ông tên Dũng ( hông xác định đ ợc nhân thân, lai lịch), là ng ời mới quen biết và đi chung xe với ông T đến Công ty Thiện P. Khi ông C, ông T và ng ời đàn ông tên Dũng đến Công ty Thiện P, lúc này ông Nguyễn Văn Th ởng là ng ời trông giữ tài sản giúp cho ông T tại Công ty Thiện P đi ăn cơm, hông c n ai trông giữ tài sản. Ông Phạm Ngọc T điều khiển xe cẩu, ông Phạm Vũ C và ng ời đàn ông tên Dũng hỗ trợ đ a xe ô tô biển số: 52V-3007 và 13 đoạn gỗ tràm vàng lên xe cẩu chở đến tr ờng dạy lái xe T Đ, khi ông Th ởng về phát hiện bị mất tài sản nên gọi điện thoại báo cho ông T biết việc mất xe ô tô và gỗ tràm vàng, ông T đến Công A trình báo sự việc và yêu C xử lý.
Kết luận định giá tài sản trong T tụng hình sự số: 33/KL-HĐĐG ngày 05/7/2018 của H đồng định giá huyện Bến C, t nh Tây N xác định 13 đoạn gỗ tràm vàng, khối l ợng 3,5m3 tại thời điểm ngày 19/6/2018 có trị giá 5.250.000 đồng.
Vật chứng thu giữ: 13 đoạn gỗ tràm vàng có ích th ớc: 01 (một) đoạn dài 1,2m, đ ờng kính 0,17m; 01 (một) đoạn dài 1,24m, đ ờng kính 0,2m; 01 (một) đoạn dài 1,24m, đ ờng kính 0,18m; 01 (một) đoạn dài 1,33m, đ ờng kính 0,12m; 01 (một) đoạn dài 1,2m, đ ờng kính 0,2m; 01 (một) đoạn dài 2,03m, đ ờng kính 0,33m; 01 (một) đoạn dài 1,24m, đ ờng kính 0,32m; 01 (một) đoạn dài 1,2m, đ ờng kính 0,25m; 01 (một) đoạn dài 1,23m, đ ờng kính 0,24m; 01 (một) đoạn dài 1,23m, đ ờng kính 0,22m; 01 (một) đoạn dài 1,24m, đ ờng kính 0,18m; 01 (một) đoạn dài 4,98m, đ ờng kính 0,52m; 01 (một) đoạn dài 3,3m, đ ờng kính 0,35m.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 67/2018/HS-ST ngày 30-11-2018 của Tòa án nhân dân huyện Bến C, tỉnh Tây N đã xử:
Căn cứ điểm c hoản 2 Điều 173 của bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 03 năm tù về tội trộm cắp tài sản.
Ngày 06 tháng 12 năm 2018 bị cáo N kháng cáo; ngày 14 tháng 12 năm 2018 Viện iểm sát nhân dân huyện Bến C kháng nghị; ngày 27 tháng 12 năm 2018 Viện iểm sát nhân dân t nh Tây N kháng nghị đối với bản án số: 67/2018/HS-ST ngày 30-11-2018 của Tòa án nhân dân huyện Bến C.
Tại bản án hình sự P thẩm số: 61/2019/HS-PT ngày 15-5-2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây N đã xử: Hủy bản án hình sự sơ thẩm số: 67/2018/HS-ST ngày 30-11-2018 của Tòa án nhân dân huyện Bến C, t nh Tây N, giao hồ sơ vụ án cho Viện iểm sát nhân dân huyện Bến C giải quyết lại theo thủ tục chung.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2022/HS-ST ngày 13-01-2022 của Tòa án nhân dân huyện Bến C, tỉnh Tây N đã xử:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N (Ly KeAg) 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù đ ợc tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo N.
2. Về vật chứng: Trả lại cho Công ty TNHH Thiện P 13 đoạn gỗ Tràm Vàng có ích th ớc: 01 (một) đoạn dài 1,2m, đ ờng kính 0,17m; 01 (một) đoạn dài 1,24m, đ ờng kính 0,2m; 01 (một) đoạn dài 1,24m, đ ờng kính 0,18m; 01 (một) đoạn dài 1,33m, đ ờng kính 0,12m; 01 (một) đoạn dài 1,2m, đ ờng kính 0,2m; 01 (một) đoạn dài 2,03m, đ ờng kính 0,33m; 01 (một) đoạn dài 1,24m, đ ờng kính 0,32m; 01 (một) đoạn dài 1,2m, đ ờng kính 0,25m; 01 (một) đoạn dài 1,23m, đ ờng kính 0,24m; 01 (một) đoạn dài 1,23m, đ ờng kính 0,22m; 01 (một) đoạn dài 1,24m, đ ờng kính 0,18m; 01 (một) đoạn dài 4,98m, đ ờng kính 0,52m; 01 (một) đoạn dài 3,3m, đ ờng kính 0,35m.
Ngày 20 tháng 01 năm 2022 và ngày 14 tháng 02 năm 2022 bị cáo Nguyễn Thị N có đơn háng cáo kêu oA.
Tại phiên t a bị cáo giữ nguyên yêu C kháng cáo.
Tại phiên t a Kiểm sát viên phát biểu quA điểm về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ vào tài liệu chứng cứ đã thu thập đ ợc có trong hồ sơ vụ án xét thấy T a án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N (Ly KeAg) 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ, đúng pháp luật, không oA. Đề nghị H đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Ng ời bào chữa cho bị cáo trình bày: 13 đoạn gỗ tràm vàng là của chồng bị cáo thuê ng ời trồng hi mua đất, năm 2017 ông T thuê ng ời cắt cây bị cáo có làm đơn báo cho ông N (tr ởng ấp). Tr ớc khi chở 13 đoạn gỗ cây tràm đi Ah C có điện thoại báo cho ông S là công viên của ấp B biết. Biên bản kiểm tra hiện tr ờng ngày 20/6/2018 ghi khu nhà ở, lán trại do chồng bị cáo thuê ng ời xây dựng nh ng biên bản kiểm tra hiện tr ờng ngày 02/02/2021 có ghi dòng chữ nhỏ là (nơi đặt vị trí văn phòng công ty Phú Nông), bị cáo không thừa nhận nội D này do ghi thêm vào sau khi bị cáo ký tên vào biên bản. Ông T không cung cấp đ ợc hợp đồng do ông H thuê đất. Công ty Phú Nông, T sở tại: ấp B, xã Tiên T từ năm 2010; Công ty Thiện P đăng lần đầu năm 2007, T sở tại ấp T Tây, xã Lợi T, đăng thay đổi lần 04 ngày 31/7/2014 thì T sở chính mới dời về ấp B, xã Tiên T. Tòa án sơ thẩm cho rằng năm 2011 ông H thuê nhà tại Công ty Thiện P để làm văn ph ng Công ty P Nông là không đúng. Tài sản của vợ chồng bị cáo, bị cáo không có hành vi lén lút khi lấy tài sản nên không phạm tội trộm cắp tài sản nh án sơ thẩm đã tuyên.
Bị cáo hông trAh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: mong H đồng xét xử xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đ ợc trAh tụng tại phiên tòa, H đồng xét xử nhận định nh sau:
Về T tụng: trong quá trình điều tra, truy T, xét xử tại cấp sơ thẩm bị cáo hông có iến hoặc hiếu nại về hành vi, quyết định của ng ời tiến hành T tụng và cơ quA tiến hành T tụng cấp sơ thẩm. Các hành vi, quyết định của ng ời tiến hành T tụng và cơ quA tiến hành T tụng cấp sơ thẩm là hợp pháp.
Đơn háng cáo của bị cáo Nguyễn Thị N làm trong thời hạn luật định và hợp lệ nên đ ợc chấp nhận xem xét.
Xét yêu C háng cáo của bị cáo:
Về tội dAh: bị cáo và ng ời bào chữa cho rằng 13 đoạn cây gỗ tràm vàng, khối l ợng 3,5m3 là của chồng bị cáo trồng trên đất của Công ty Phú Nông; ngày 19/6/2018, bị cáo điện thoại cho ông C dẫn đ ờng cho ông T điều khiển xe ô tô cẩu đến Công ty Thiện P vận chuyển 13 đoạn cây gỗ tràm vàng về tr ờng dạy lái xe T Đ thuộc ấp A B, xã A Tịnh huyện Trảng Bàng (nay là khu phố A B, ph ờng A Tịnh, thị xã Trảng Bàng, t nh Tây N); tr ớc khi vận chuyển bị cáo kêu ông C điện thoại thông báo cho ông Trịnh Công S, Công A viên phụ trách ấp B, xã Tiên T biết nên hành vi của bị cáo không phạm tội trộm cắp tài sản.
Căn cứ vào tài liệu chứng cứ thu thập đ ợc có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định. Khi mua đất T lập Công ty Thiện P thì trên đất có một số cây tràm vàng, nên ông T mua luôn với số tiền 2.000.000 đồng. Ông Mõng thừa nhận có bán cây tràm vàng nằm trên đất của Công ty Thiên P cho Ah T với giá 2.000.000 đồng (BL620). Đến tháng 9/2017 ông T thuê ng ời c a cây tràm vàng ra T nhiều đoạn để trong khuôn viên của Công ty Thiện P thì bị cáo điện thoại cho ông N (tr ởng ấp B, xã Tiên T) đến lập biên bản đình ch . Ông N trình bày: “Năm 2017 bà N điện thoại trình bày ông T cắt cây tràm tại công ty Phú Nông, yêu C ông đến đình chỉ. Do điện thoại nhiều lần, nên ông đến Công ty nơi bà N chỉ thì đó là công ty Thiện P. Ông thấy có nhiều đoạn gỗ tràm vàng để tại công ty Thiện P vừa cưa hạ xuống khoảng vài ngày cùng với dấu gốc cây bị cắt tại phần đất của Công ty Thiện P nên ông đi về không lập biên bản. Ngày 01/11/2021 bà N đến nhà gặp ông nhờ xác nhận sự việc năm 2017 đến trình báo việc lấy cắp tài sản tại Công ty Phú Nông, do nhận thức và không hiểu rõ nên ông có xác nhận vào đơn”.
Tại biên bản khám nghiệm hiện tr ờng ngày 20-6-2018 thể hiện: cách vị trí (1) nơi để xe ô tô về h ớng Đ bắc 15,30m phát hiện 03 gốc cây tràm đã bị c a (vị trí (2). Cách vị trí (2) về h ớng Đ bắc 04m là vị trí 13 khúc gỗ tràm d ới nền đất, cách khu nhà ở về h ớng Đ là 7,70m. Tại biên bản kiểm tra hiện tr ờng và sơ đồ hiện tr ờng ngày 02-02-2021 bị N và ông T xác định: Khu đất Công ty Thiện P cách hu đất Công ty Phú Nông là 68m (BL 518, 520).
Nh vậy, có đủ căn cứ xác định 13 khúc gỗ tràm vàng đ ợc c a ra từ những cây tràm vàng trồng trên đất là của Công ty Thiện P, không phải trên đất của Công ty Phú Nông. Đất của Công ty Phú Nông nằm cách đất của Công ty Thiện P 68m. Bị cáo và ng ời bào chữa cho rằng nguồn gốc 13 khúc gỗ tràm vàng là do vợ chồng bị cáo thuê ng ời trồng hi mua đất là hông có căn cứ để chấp nhận.
Theo các tài liệu thu thập đ ợc có trong hồ sơ vụ án thể hiện. Ngày 27/12/2007 Công ty trách nhiệm hữu hạn Thiện P (gọi tắt: Công ty Thiện P), đ ợc T lập đến năm 2014 dời T sở tại tổ 8, ấp B, xã Tiên T, huyện Bến C, t nh Tây N, ng ời đại diện theo pháp luật ông Trần Võ Lâm T. Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất phân vi sinh Phú Nông (gọi tắt: Công ty Phú Nông) đ ợc T lập vào ngày 26/6/2009, địa ch T sở chính tại số 02, khu phố 2, thị trấn Bến C, huyện Bến C, t nh Tây N, ng ời đại diện theo pháp luật ông Trần Văn Sắng, đăng thay dổi lần thứ 2 ngày 19/11/2009 ng ời đại diện theo pháp luật ông Đỗ Văn H (ông Đỗ Văn H là Ah ruột của ông Đỗ Văn Lâm, ông Lâm là cha vợ của ông Trần Võ Lâm T). Đăng thay đổi lần thứ 3 vào ngày 13/7/2010 thì Công ty Phú Nông dời T sở chính về ấp B, xã Tiên T, huyện Bến C, t nh Tây N. Ông Trần Văn Của (T viên công ty Phú Nông) trình bày “Lúc T lập Công ty Thiện P có xây nhà ở cho vợ chồng ông C, sau ông C không ở nữa nên tôi đề nghị thuê phòng này đặc biển hiệu Công ty Phú Nông”. Tại biên bản kiểm tra hiện tr ờng và sơ đồ hiện tr ờng ngày 02-02-2021 (BL 518, 519, 520) bị N và ông T xác định: vị trí (4) ph ng ích th ớc (12,20m x 5m) là nơi đặt văn ph ng đại diện của Công ty Phú Nông. Tòa án sơ thẩm xác định ông H thuê nhà tại Công ty Thiện P để làm văn ph ng Công ty Phú Nông là có căn cứ.
Bị cáo thừa nhận khoảng 09 giờ 30 phút ngày 19/6/2018, có điện thoại cho ông C dẫn đ ờng cho ông T điều khiển xe ô tô cẩu đến Công ty Thiện P vận chuyển 13 đoạn cây gỗ tràm vàng tr ờng dạy lái xe T Đ thuộc xã A Tịnh huyện Trảng Bàng (nay là khu phố A B, ph ờng A Tịnh, thị xã Trảng Bàng, t nh Tây N); tr ớc khi vận chuyển gỗ bị cáo kêu ông C điện thoại thông báo cho ông Trịnh Công S, Công A viên phụ trách ấp B, xã Tiên T biết nên hành vi của bị cáo không phạm tội trộm cắp tài sản.
Xét thấy, tại biên bản đối chất ngày 19/3/2021 (BL 639) giữa ông Trịnh Công S và ông Phạm Vũ C xác định: ông C có thông báo cho ông S biết việc lấy Cếc xe ô tô biển số: 52V-3007 về sửa chữa, còn việc vận chuyển 13 đoạn cây gỗ tràm vàng, công C không báo cho ông S biết.
Nh vậy, có đủ căn cứ xác định 13 đoạn cây gỗ tràm vàng, khối l ợng 3,5m3 trị giá 5.250.000 đồng là của Công ty Thiện P; bị cáo thuê ng ời đến để vận chuyển 13 đoạn cây gỗ tràm vàng đến ph ờng A Tịnh, thị xã Trảng Bàng trong khi ông Nguyễn Văn Th ởng là ng ời trông giữ tài sản cho ông T tại Công ty Thiện P không có mặt. Hành vi nêu trên của bị cáo là lén lút đối với chủ sở hữu để Cếm đoạt tài sản. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oA.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã H, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của ng ời hác đ ợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị A tại địa ph ơng nên cần xử l nghiêm.
Về hình phạt: hi quyết định hình phạt T a án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo nh : bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc tr ờng hợp ít nghiêm trọng; tài sản Cếm đoạt có giá trị hông lớn và đã đ ợc thu hồi; bị cáo thừa nhận có lấy gỗ nh ng ngh đó là gỗ của chồng bị cáo có nghĩa là bị cáo hai báo T hẩn. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, hông có tình tiết tăng nặng, có nơi c trú rõ ràng và đủ các điều iện để đ ợc h ởng án treo theo quy định tại Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của H đồng Thẩm phán T a án nhân dân Ti cao nên sửa bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm là ch a phù hợp với nhận của H đồng xét xử nên không chấp nhận.
Về án phí: bị cáo là ng ời cao tuổi nên đ ợc miễn tiền án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy bA Th ờng vụ Quốc H quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tòa án cấp sơ thẩm xử buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm là hông đúng, nên sửa bản án sơ thẩm về án phí. Cần rút kinh nghiệm.
Các quyết định của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b hoản 1 Điều 355; điểm e hoản 1 Điều 357 của Bộ luật T tụng hình sự.
2. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2022/HS-ST ngày 13-01-2022 của Tòa án nhân dân huyện Bến C, t nh Tây N.
2.1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N (Ly KeAg) 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nh ng cho h ởng án treo thời giA thử thách 01 (một) năm ể từ ngày tuyên án P thẩm. giao bị cáo cho Ủy bA nhân dân xã Tân A H, huyện Củ C, T phố Hồ Chí M giám sát, giáo dục trong thời giA thử thách. Tr ờng hợp ng ời đ ợc h ởng án treo thay đổi nơi c trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời giA thử thách, ng ời đ ợc h ởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ng ời đ ợc h ởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho h ởng án treo.
2.2. Về vật chứng: Trả lại cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Thiện P 13 đoạn gỗ Tràm Vàng có ích th ớc: 01 (một) đoạn dài 1,2m, đ ờng kính 0,17m; 01 (một) đoạn dài 1,24m, đ ờng kính 0,2m; 01 (một) đoạn dài 1,24m, đ ờng kính 0,18m; 01 (một) đoạn dài 1,33m, đ ờng kính 0,12m; 01 (một) đoạn dài 1,2m, đ ờng kính 0,2m; 01 (một) đoạn dài 2,03m, đ ờng kính 0,33m; 01 (một) đoạn dài 1,24m, đ ờng kính 0,32m; 01 (một) đoạn dài 1,2m, đ ờng kính 0,25m; 01 (một) đoạn dài 1,23m, đ ờng kính 0,24m; 01 (một) đoạn dài 1,23m, đ ờng kính 0,22m; 01 (một) đoạn dài 1,24m, đ ờng kính 0,18m; 01 (một) đoạn dài 4,98m, đ ờng kính 0,52m; 01 (một) đoạn dài 3,3m, đ ờng kính 0,35m.
3. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy bA Th ờng vụ Quốc H quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo đ ợc miễn tiền án phí.
4. Các quyết định của bản án sơ thẩm hông bị háng cáo, háng nghị thì có hiệu lực pháp luật ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.
5. Bản án P thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT 1 (TADTC); - TADCC tại TP HCM; - VKSNDCC tại TP HCM; - VKSND t nh Tây N; - CQTHA hình sự huyện Bến C; - CQĐT Công A huyện Bến C; - TAD huyện Bến C; - C cục THADS huyện Bến C; - Ph ng l lịch Sở T pháp t nh Tây N; - Phòng KTNV TAD t nh Tây N; - Bị cáo; UBND xã Tân A H, huyện Củ C, TP HCM. - L u hồ sơ vụ án; - L u tập án HSPT. | TM. H ĐỒNG XÉT XỬ P THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Tùng |