- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thùy T:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 93/2022/HNGĐ-ST Ngày: 09/9/2022. V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH - TỈNH BÌNH THUẬN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Thuận.
Các hội thẩm nhân dân:
1.ông Hồ Văn Sơn
2.Bà Lê Thị Kiều Hương.
-Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Mai Thảo Chi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh.
Trong ngày 09 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý: 370/2022/TLST-HNGĐ, ngày 27 tháng 7 năm 2022, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 212/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 26 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thùy T, sinh năm: 1992
Nơi cư trú: số 12, đường Nguyễn Thị Minh Khai, khu phố 8, TT. Đức Tài, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
2.Bị đơn: Huỳnh Hữu T1, sinh năm: 1984
Nơi cư trú: số 12, đường Nguyễn Thị Minh Khai, khu phố 8, TT. Đức Tài, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa: nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 08/9/2022
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 20/7/2022, biên bản tự khai, biên bản hòa giải và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, nguyên đơn Nguyễn Thùy T trình bày: Chị và anh T1 tự nguyện tìm hiểu đi đến kết hôn, anh chị có đăng ký kết hôn vào năm 2012 tại UBND TT.Đức Tài, sau khi kết hôn thì anh chị về nhà mẹ chị chung sống, đến năm 2014 thì anh chị về TT.Đức Tài chung sống, anh chị chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T1 thường xuyên chơi bài bạc, cầm cố tài sản trong gia đình để chơi, không tin tưởng lẫn nhau. Hiện nay hai vợ vẫn chung sống cùng nhà, nhưng chị xác định không còn tình cảm với anh T1. Nay chị yêu cầu giải quyết ly hôn.
Theo bản tự khai ngày 22/8/2022 có trong hồ sơ cũng như biên bản hòa giải, bị đơn Huỳnh Hữu T1 trình bày: anh và chị T tự nguyện tìm hiểu đi đến kết hôn. Sau khi kết hôn thì anh chị chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì xẩy ra mâu thuẫn, nhưng theo anh chỉ là mâu thuẫn nhỏ. Nay chị T làm đơn khởi kiện ly hôn thì anh không đồng ý ly hôn.
- Về con chung: anh chị có 01 con chung
+ Huỳnh Như Y, sinh ngày 18/9/2012
Khi ly hôn chị T, anh T1 đều có nguyện vọng được nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: anh chị tự thỏa thuận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của nguyên đơn, bị
đơn có trong hồ sơ của Tòa án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện đề ngày 20/7/2022 Tòa án xác định đây là vụ án: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận theo quy định tại khoản 1, Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Kể từ ngày Tòa án nhân dân huyện Đức Linh thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã thực hiện đúng quy định về việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho đương sự được quy định tại chương X Bộ luật tố tụng dân sự.
Chị Nguyễn Thùy T, anh Huỳnh Hữu T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 08/9/2022. Hội đồng xét xử xét thấy rằng nội dung và hình thức của đơn đề nghị xét xử vắng mặt là đúng theo quy định của pháp luật và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng pháp luật.
Về hôn nhân: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: Chị Nguyễn Thùy T và anh Huỳnh Hữu T1 có đăng ký kết hôn vào ngày 26/12/2011 tại UBND TT.Đức Tài, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Căn cứ vào quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử khẳng định đây là sự thật không cần phải chứng minh.
Tuy nhiên, sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh đến đầu năm 2022 thì xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là anh chị tính tình không hợp, thường xuyên cãi vã, không tin tưởng lẫn nhau làm cho tình cảm vợ chồng sứt mẻ. Thấy rằng, lời khai của anh chị là hoàn toàn phù hợp với thực tế và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Nay chị T xác định không còn tình cảm với anh T1 nữa và cương quyết ly hôn. Tòa án cũng đã kiên trì hòa giải cho vợ chồng anh đoàn tụ nhưng không thành, cho thấy hôn nhân của anh, chị mâu thuẫn thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu có tiếp tục kéo dài cũng không đem lại lợi ích cho anh, chị và các cháu. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T là đúng theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Xét thấy chị T là người có sức khỏe, có tư cách đạo đức tốt, có nghề nghiệp thu nhập ổn định, có nguyện vọng trực tiếp được yêu cầu nuôi con. Mặt khác cháu Huỳnh Như Y, sinh ngày 18/9/2012, hiện nay đã trên 7 tuổi, cháu có bản tự khai là có nguyện vọng trực tiếp được ở với mẹ. Vì vậy Hội xét xử quyết định giao con (Y) cho chị T được quyền trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về quyền thăm nom con: Để bảo đảm quyền lợi cho các cháu được phát triển tốt về thể chất và tinh thần, nhận được tình yêu thương đầy đủ từ cả cha lẫn mẹ, cần xem xét tuyên quyền và nghĩa vụ thăm nom con sau khi chị T ly hôn với anh T1. Anh Huỳnh Hữu T1 phải chấp hành đúng quy định về việc thăm nom con tại khoản 3 Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu anh Huỳnh Hữu T1 phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Vì vậy hội đồng xét xử không xem xét trong bản án này.
Về tài sản chung và nợ chung: anh chị không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không phải xem xét giải quyết trong vụ án này.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ nghị quyết về án phí và lệ phí của Ủy ban thường vụ Quốc Hội số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 thì chị T là người khởi kiện ly hôn nên chị phải chịu toàn bộ án phí ly hôn theo luật định.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự của năm 2015; Áp dụng Điều 51, 56 và Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26 luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016.Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thùy T:
1/Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thùy T ly hôn anh Huỳnh Hữu T1
2/Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thùy T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con: Huỳnh Như Y, sinh ngày 18/9/2012
Anh Huỳnh Hữu T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Chị Nguyễn Thùy T trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Huỳnh Hữu T1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
3/Về án phí DSST: Chị Nguyễn Thùy T phải chịu 300.000đồng án phí DSST, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp là 300.000đồng theo biên lai số 0012378 ngày 27/7/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh. Chị T đã nộp đủ án phí DSST.
4/Về quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn, bị đơn biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
5/ Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Đức Linh; - Thi hành án DS huyện Đức Linh; - Các đương sự;. -UBND TT.Đức Tài. -Lưu hồ sơ, quyết định./. | TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Đỗ Xuân Thuận |