- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "H - N"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Hồ Phi H về việc “giao cho anh Hồ Phi H trực tiếp nuôi con Hồ Phi K, sinh ngày 07/11/2018”
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 93/2022/HNGĐ-ST Ngày: 23-08-2022 V/v tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Xuân Thọ - Thẩm phán.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Hưng và ông Thái Văn Thành.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Thanh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Luyện Văn Thông – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 08 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 292/2022/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 06 năm 2022 về việc “ tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 207/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 15 tháng 08 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Hồ Phi H; nơi cư trú: Xóm Công Văn, xã Thịnh Thành, huyện Y, tỉnh Nghệ An (có mặt)
- Bị đơn: Chị Trần Thị N; nơi cư trú: Xóm Hồng Thịnh, xã Thịnh Thành, huyện Y, tỉnh Nghệ An ( xin vắng mặt ).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 08 tháng 06 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Hồ Phi H trình bày:
Anh và chị Trần Thị N là vợ chồng. Do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên chị N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Ngày 29/03/2019 Tòa án nhân dân huyện Y ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 90/2019/QĐST-HNGĐ như sau:
Về hôn nhân: Anh H và chị N thuận tình ly hôn.
Về con chung: Giao 01 con chung là Hồ Phi K, sinh ngày 07/11/2018 cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên.
Sau khi được Tòa án giao con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng thì chị N đi làm ăn xa, gửi con cho bà Phan Thị T (mẹ chị N) chăm sóc và chị N không có thời gian chăm sóc con cái. Hơn nữa quá trình anh thăm non con, tuy bên gia đình chị N không cản trở việc thăm con nhưng không cho Anh đưa con về bên nội chơi.
Anh H làm nghề thầu xây dựng và cơ khí tại địa phương, có thu nhập ổn định từ 10.000.000 đồng đến 11.000.000 đồng/tháng nên anh H bảo đảm về kinh tế cũng như thời gian để chăm sóc, giáo dục con. Do đó Anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Hồ Phi K, sinh ngày 07/11/2018 đến khi con thành niên.
Tháng 6/2021 sau khi chị N về tham gia hòa giải tại Tòa án chị N đã đưa con đi để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Tại bản tự khai đề ngày 21 tháng 06 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Trần Thị N trình bày:
Chị và anh Hồ Phi H là vợ chồng. Do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên Chị đã yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Ngày 29/03/2019 Tòa án nhân dân huyện Y ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 90/2019/QĐST-HNGĐ như sau:
Về hôn nhân: Anh H và chị N thuận tình ly hôn.
Về con chung: Giao 01 con chung là Hồ Phi K, sinh ngày 07/11/2018 cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên.
Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Hồ Phi H.
Sau đó chị N yêu cầu cấp dưỡng nuôi con và được Tòa án chấp nhận, ra quyết định Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 136/2019/QĐST-HNGĐ ngày 14/05/2019 là anh Hồ Phi H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 500.000 đồng kể từ khi quyết định có hiệu lực đến khi con thành niên.
Anh H đã cấp dưỡng nuôi con đầy đủ đến tháng 09/2021, từ tháng 10/2021 đến nay, anh H không nộp tiền cấp dưỡng nuôi con.
Khi vợ chồng đang hạnh phúc, cháu K được bà ngoại nuôi dưỡng chăm sóc từ khi 3, 4 tháng tuổi. Sau khi ly hôn Chị tiếp tục gửi bà Ngoại nuôi dưỡng, chị đi làm để lấy tiền nuôi con. Bà Ngoại nuôi dưỡng, chăm sóc, đưa đón cháu học hành, bảo đảm cháu phát triển mọi mặt. Hiện nay con mới gần 4 tuổi, còn rất nhỏ. Chị không muốn làm xáo trộn cuộc sống đang ổn định của con.
Chị đi làm công nhân thu nhập mỗi tháng trung bình 13.000.000 đồng. Chị hoàn toàn có điều kiện kinh tế để chăm sóc con.
Vì vậy chị N không đồng ý giao con chung cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi con đủ tuổi thành niên.
Anh H lấy lý do chị N không trực tiếp nuôi con nên Chị không gửi con cho bà ngoại nữa mà chị N đưa con đi ở cùng để chị trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con lớn khôn và trưởng thành.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Nghệ An, công bố việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án đều tuân theo pháp luật của Bộ luật tố tụng dân sự.
Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Hồ Phi H
Về án phí: Anh Hồ Phi H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến trình bày của các đương sự tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định.
Về Tố tụng: Nguyên đơn anh Hồ Phi H và bị đơn chị Trần Thị N đã được tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt cho nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nuôi con:
Ngày 29/03/2019 Tòa án nhân dân huyện Y ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 90/2019/QĐST-HNGĐ như sau:
Về hôn nhân: Anh H và chị N thuận tình ly hôn.
Về con chung: Giao 01 con chung là Hồ Phi K, sinh ngày 07/11/2018 cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên.
Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Hồ Phi H.
Ngày 14/05/2019 Tòa án nhân dân huyện Y ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 136/2019/QĐST-HNGĐ như sau:
Anh Hồ Phi H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 500.000 đồng kể từ ngày quyết định có hiệu lực đến khi con thành niên.
Theo anh H: Tòa án giao con chung Hồ Phi K cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nhưng chị N đi làm xa, không trực tiếp nuôi dưỡng con mà phải gửi bà Ngoại chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh xin bà Ngoại đưa con về bên nội chơi vài ngày thì bà Ngoại cản trở không cho. Do vậy Anh yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và giao con Hồ Phi K cho Anh trực tiếp nuôi dưỡng.
Theo chị N: Khi vợ chồng đang hạnh phúc, gửi con cho bà Ngoại trực tiếp nuôi dưỡng ( lúc đó con mới 2 – 3 tháng tuổi), chăm sóc đến nay tốt, Sau khi ly hôn, Tòa án giao chị nuôi con thì Chị tiếp tục gửi con cho bà Ngoại nuôi dưỡng để Chị đi làm ăn để kiếm tiền nuôi con. Thu nhập của Chị bình quân 13.000.000 đồng/tháng và Chị gửi tiền đầy đủ cho bà ngoại để nuôi con, Chị gọi điện về thăm con hàng ngày. Tháng 6/2022 Chị không gửi con cho bà ngoại nữa mà Chị đưa con đi ở cùng để chị trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con lớn khôn và trưởng thành. Hiện nay chị N đủ điều kiện nuôi con nên chị N không chấp nhận yêu cầu của anh H.
Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện nay chị N có thu nhập hàng tháng từ 9.000.000 đồng đến 17.000.000 đồng, có nơi ở, nơi làm việc ổn định và đang trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Hồ Phi K. Cháu Hồ Phi K ngoan ngoãn, khỏe mạnh, được học hành. Như vậy chị Trần Thị N còn đủ điều kiện trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nên không chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của anh Hồ Phi H.
Về án phí: Anh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Hồ Phi H về việc “giao cho anh Hồ Phi H trực tiếp nuôi con Hồ Phi K, sinh ngày 07/11/2018”
2. Án phí: Anh Hồ Phi H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0011368 ngày 10 tháng 06 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Y, tỉnh Nghệ An. Anh Hồ Phi H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Chi cục THADS huyện Y; - TAND tỉnh Nghệ An; - Cơ quan thực hiện việc đăng kết hôn; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu kết quả; - Đương sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Xuân Thọ |