- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Đình T - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Cao Đình T 2 (Hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 11-4-2021.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 93/2021/HS-ST Ngày: 21-9-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Tấn Phát
2. Ông Trần Hoài Duy
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Ninh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Bà Đoàn Thị Thủy Tiên, Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 63/2021/TLST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2021/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:
Cao Đình T, sinh năm 1997 tại tỉnh B; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Ấp T, xã S, huyện C, tỉnh B; nơi tạm trú: Khu phố A, phường B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Bán vé số; trình độ học vấn: 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Đình H, sinh năm 1957 và bà Lê Thị K, sinh năm 1970; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ ngày 11-4-2021, chuyển tạm giam từ ngày 17-4-2021 đến nay.
Bị cáo có mặt.
* Bị hại: Anh Quan Công L, sinh năm 2000; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Nơi cư trú: Số 66A, Hẻm 32, đường Đ, khu phố M, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cao Đình T làm nghề bán vé số và có quen biết với người thanh niên không rõ họ tên địa chỉ mà T gọi là anh “Năm” và được người thanh niên này rủ đi trộm cắp tài sản là xe gắn máy của người dân để sơ hở trên đường, T đồng ý. Khoảng 07 giờ ngày 11-4-2021, người tên “Năm” điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở T đi vòng quanh nhiều tuyến đường trên địa bàn thành phố T tìm tài sản lấy trộm; đến khu vực hẻm số 28 đường Đ thuộc khu phố M, phường N, thành phố T, T và người tên “Năm” nhìn thấy một xe mô tô hiệu Honda loại Wave biển số 70B1-705.37 của anh Quan Công L đang dựng cặp lề đường bờ kênh để vào thăm vườn mãng cầu. T và người tên “Năm” quan sát thấy xe không có người trông coi nên “Năm” đưa cho T một bộ đoản phá khoá xe, T lấy bộ đoản bỏ vào túi quần và đi bộ lại gần và phát hiện trên xe có cắm sẵn chìa khoá. T mở khóa xe nổ máy chạy về hướng cuối đường khoảng 100 m thì bị anh L phát hiện truy hô và cùng người dân đuổi bắt quả tang cùng tang vật. Kiểm tra trong cốp xe có 41.000.000 đồng. Riêng người tên “Năm” khi bị người dân truy hô, đã điều khiển xe mô tô chạy thoát.
* Kết luận định giá tài sản số 23/KLĐG-TTHS ngày 13-4-2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: Xe mô tô 02 bánh, biển số 70B1-705.37 đã qua sử dụng, hiệu Honda Wave có giá trị là 12.000.000 đồng.
Cáo trạng số 67/CT-VKSTPTN ngày 03 tháng 6 năm 2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh đã truy tố Cao Đình T về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điểm c Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, mục đích bị cáo đi trộm cắp tài sản là để có tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân.
Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh trình bày bản luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên nội dung Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Cao Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng Điểm c Khoản 2 Điều 173; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo từ 2 năm đến 3 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung do bị cáo không có tài sản.
- Về trách nhiệm dân sự: Anh L đã nhận lại tài sản, ghi nhận không yêu cầu bồi thường thiệt hại.
- Về vật chứng thu giữ trong vụ án, yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.
Bị cáo không tranh luận với Kiểm sát viên và nói lời nói sau cùng: “Bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo trở về với gia đình.”.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa, bị cáo Cao Đình T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, thời gian địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, lời khai của những người làm chứng, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định:
Vào ngày 11-4-2021, tại khu phố M, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, Cao Đình T đã lén lút lấy trộm 01 xe mô tô hiệu Honda loại Wave biển số 70B1-705.37 của anh Quan Công L có giá trị 12.000.000 đồng và trong cốp xe có số tiền 41.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản T chiếm đoạt là 53.000.000 đồng.
Hành vi của Cao Đình T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác nên phải chịu trách nhiệm hình sự.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vì lười biếng lao động mà muốn có tiền để trả nợ và tiêu xài nên vẫn cố ý phạm tội. Hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Cáo trạng 67/CT-VKSTPTN ngày 03-6-2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Khi quyết định hình phạt cần xem xét:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về áp dụng hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo, và phòng ngừa tội phạm chung.
Qua xác minh, bị cáo không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại Khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Về vật chứng, xử lý vật chứng:
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen số Imei: 358420060845284 bị cáo dùng để liên lạc với người tên “Năm” nhằm mục đích cùng nhau đi tìm tài sản trộm cắp nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
- 01 dao loại dao rọc giấy dài 23cm, phần lưỡi dài 7 cm, cán dài 16 cm và 01 bộ đoản phá khóa xe gồm 01 thanh sắt chữ L, loại 8 mm, dài 16 cm, 01 thanh sắt được mài dẹp 01 đầu dài 5 cm là công cụ dùng vào việc phạm tội hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Anh Quan Công L đã nhận lại tài sản bị trộm cắp là 01 xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 70B1-705.37 và số tiền 41.000.000 đồng, ghi nhận anh Luận không yêu cầu bồi thường.
Đối với người tên “Năm”, T khai nhận mới quen biết, không rõ họ tên địa chỉ, không xác định được nơi ở nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tây Ninh chưa làm việc được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo Cao Đình T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Từ những phân tích trên cho thấy đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ Điểm c Khoản 2 Điều 173; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Cao Đình T 2 (Hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 11-4-2021.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen số Imei: 358420060845284.
- Tịch thu tiêu hủy 01 dao loại dao rọc giấy dài 23cm, phần lưỡi dài 7 cm, cán dài 16 cm và 01 bộ đoản phá khóa xe gồm 01 thanh sắt chữ L loại 8 mm, dài 16 cm, 01 thanh sắt được mài dẹp 01 đầu dài 5 cm.
Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04-6-2021 đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tây Ninh chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
3. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Cao Đình T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc hoặc được tống đạt hợp lệ.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Ðiều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Ðiều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - P.KTNV&THA-TAND tỉnh TN; - Phòng PV 06 CA Tây Ninh; - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh; - Công an TP Tây Ninh; - VKSND thành phố Tây Ninh; - Chi cục THADS thành phố Tây Ninh; - Đội ĐTTP về TTATXH; - Cơ quan THAHS - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hạnh |