vanban.org

Bản án 93/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 4, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 05/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: LTN, 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”.

Thời hạn tù tính từ ngày 16 tháng 12 năm 2020. Trả lại LTN 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen, 01 (một) áo sơmi ca rô dài tay, 01 (một) quần Jean dài màu xanh và 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi màu xám đen bị vỡ hư hỏng màn hình. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LTN phạm tội Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: LTN, 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2021/HS-ST
Ngày: 05-11-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Đoàn Thanh Trúc

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Võ Thanh Nga.

2/ Bà Đinh Kim Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Đăng Huy là Thư ký Toà án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Công Vũ - Kiểm sát viên

Ngày 05 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 101/2021/HSST ngày 19 tháng 05 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 485/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

LTN (tên gọi khác: Đen); sinh ngày 17 tháng 4 năm 1992 tại Thành phố Hồ Chí Minh; HKTT: TTT, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: TTT, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông LTP và bà VTT; vợ tên PAT và có một con chung sinh năm 2012.

Tiền án:

- Năm 2014, Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù giam về tội “Cướp giật tài sản” (Bản án số 28/2014/HSST ngày 10/02/2014). Chấp hành xong án phạt tù ngày 02/09/2016 (Giấy chứng nhận số 705/GCN ngày 02/9/2016).

- Năm 2019, Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù giam về tội “Cướp giật tài sản” (Bản án số 01/2019/HSST ngày 09/01/2019). Chấp hành xong án phạt tù ngày 28/04/2020 (Giấy chứng nhận số 407/GCN ngày 28/04/2020).

Tiền sự:

- Năm 2008, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp tài sản”. (Bản án số 317/2008/HSST ngày 22/04/2008). Bản án bị kháng cáo. Ngày 24/6/2008, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” (Bản án số 681/2008/HSPT ngày 24/06/2008). Chấp hành xong án phạt tù ngày 19/7/2010 (Giấy chứng nhận số 557/GCN-CHXHPT ngày 19/7/2010).

- Năm 2018, Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian chấp hành là 21 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Quyết định số 124/QĐ-TA ngày 12/04/2018). Chưa chấp hành quyết định.

Bị bắt tạm giam ngày 16/12/2020 “có mặt”.

Bị hại:

Bà NTTA, sinh năm 1996 “vắng mặt”.

Địa chỉ: DQH, Phường C, quận GV, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Bà NTH, sinh năm 1972 “vắng mặt”.

Địa chỉ: KP, phường TH, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 35 phút ngày 15/12/2020, LTN điều khiển xe gắn máy kiểu dáng Wave, màu xanh, biển số C3 đến khu vực trường NHT, số 02 BVĐ, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh tìm cha ruột là ông LTP làm bảo vệ dân phố Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh để xin tiền tiêu xài. Khi đến trước số 02 Bến Vân Đồn, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, LTN phát hiện chị NTTA đang đi bộ theo hướng ngược chiều, trên tay cầm điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J5 Prime màu đen nên nảy sinh ý định cướp giật. Để thực hiện ý định, LTN điều khiển xe gắn máy biển số C3 chạy theo chị NTTA rồi áp sát từ phía sau, dùng chân đạp cần số thả trớn xe, chồm người dùng tay phải giật điện thoại di động của chị TA rồi tăng ga bỏ chạy tẩu thoát. Bị mất tài sản, chị NTTA đuổi theo tri hô “Cướp ... cướp”, thì được anh TNĐH và anh HQT đang đi bộ trên lề đường hỗ trợ truy đuổi. Khi LTN chạy đến trước số 33 BVĐ, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh thì va quẹt với xe gắn máy khác đang chạy ngược chiều nên té ngã thì bị anh TNĐH, anh HQT và chị NTTA đuổi kịp cùng bảo vệ dân phố bắt giữ cùng vật chứng giao cho Công an Phường A, Quận B lập hồ sơ phạm tội quả tang.

Tại Kết luận định giá tài sản số 189/KL-HĐĐGTS ngày 24/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh như sau:

- 01 (một) điện thoại di động Samsung Galaxy J5 Prime, màu đen, số Imei1: AA, số Imei2: BB, đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm định giá ngày 15/12/2020 là 1.000.000 đồng.

- 01 (một) sim điện thoại Viettel với số thuê bao XYZ không xác định được giá trị tại thời điểm định giá ngày 15/12/2020.

Tại Cáo trạng số 97/CT-VKS ngày 13/05/2021 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo LTN về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo LTN thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu và xin được giảm nhẹ một phần hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo LTN về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị xử phạt: Bị cáo LTN từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Trả lại LTN 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen, 01 (một) áo sơ mi ca rô dài tay, 01 (một) quần Jean dài màu xanh và 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi màu xám đen bị vỡ hư hỏng màn hình; tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án đối với 01 (một) đĩa ghi hình ghi nhận hình ảnh liên quan đến vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị NTTA đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì khác nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 4, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các biên bản tự khai, biên bản lấy lời khai của bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nhau và còn phù hợp với các tài liệu và chứng cứ khác có trong hồ sơ đã đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 19 giờ 35 phút ngày 15/12/2020, tại trước nhà số 02 BVĐ, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, LTN điều khiển xe gắn máy kiểu dáng Wave, màu xanh, biển số: C3 cướp giật một điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J5 Prime màu đen của chị NTTA có giá trị theo kết luận định giá là 1.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội, làm xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác. Bị cáo biết r hành vi của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tương xứng để răn đe, giáo dục các bị cáo cũng như phòng ngừa chung tội phạm trong xã hội.

Về nhân thân:

Bị cáo LTN có hai tiền án về tội “Cướp giật tài sản” vào năm 2014 và năm 2019 chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng với lỗi cố ý. Do đó, bị cáo bị áp dụng thêm tình tiết định khung “tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Bị cáo có một tiền sự, bị Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào năm 2018 nhưng cho đến nay bị cáo vẫn chưa chấp hành.

Ngoài ra, bị cáo còn có nhân thân xấu, đã bị kết án về tội “Cướp tài sản” vào năm 2008. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về trách nhiệm dân sự:

Tài sản bị chiếm đoạt là 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J5 Prime màu đen gắn sim số XYZ, quá trình điều tra thể hiện bị hại chị NTTA đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì khác. Quá trình chuẩn bị xét xử, sau khi được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, bị hại chị NTTA vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Trong trường hợp chị NTTA có yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự thì được giải quyết bằng vụ án khác.

6 Về xử lý vật chứng:

- Thu giữ của LTN 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen, 01 (một) áo sơmi ca rô dài tay, 01 (một) quần Jean dài màu xanh và 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi màu xám đen bị vỡ hư hỏng màn hình. Xét, đây là tài sản cá nhân của bị cáo nên trả lại.

- Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa ghi hình ghi nhận hình ảnh liên quan đến vụ án.

- Đối với 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh, biển số C3 do LTN sử dụng làm phương tiện cướp giật, qua xác minh do bà NTH đứng tên chủ sở hữu. Quá trình điều tra, xét thấy bà NTH không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Cơ quan điều tra Công an Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe gắn máy cho bà H. Bà NTH đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm d, điểm i khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt: LTN, 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”.

Thời hạn tù tính từ ngày 16 tháng 12 năm 2020.

2. Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

- Trả lại LTN 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen, 01 (một) áo sơmi ca rô dài tay, 01 (một) quần Jean dài màu xanh và 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi màu xám đen bị vỡ hư hỏng màn hình.

- Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ 01 (một) đĩa ghi hình ghi nhận hình ảnh liên quan đến vụ án.

(Vật chứng được tạm giữ theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số R ngày YTS giữa Công an Quận B và Chi cục Thi hành án dân sự Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh).

3. Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

4. Căn cứ Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ