vanban.org

Bản án 93/2021/DSST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ Tuyên án 17/06/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "NH TMCP Sài Gòn Thương Tín - Võ Huỳnh Quốc Thịnh"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN N
THÀNH PHỐ C

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2021/DSST
Ngày: 17/6/2021
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Trinh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Dung

2. Bà Đỗ Thị Lệ Hằng

Thư ký phiên tòa: Bà Võ An Trinh – Thư ký Tòa án nhân dân quận N.

Ngày 17 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận N, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 72/2021/TLST-DS ngày 19/02/2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 397/2021/QĐST-DS ngày 26 tháng 5 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S Địa chỉ: 266-268, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường 8, quận 1, thành phố H. Địa chỉ liên hệ: 95-97-99, Võ Văn Tần, phường Tân A, quận N, thành phố C.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Nguyễn S – Có mặt

(Văn bản ủy quyền ngày 20/7/2020)

Bị đơn: Ông Võ Huỳnh Quốc T sinh năm 1999 – Vắng mặt

Địa chỉ: 139/157, đường 30/4, phường Xuân Khánh, quận N, thành phố C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Đại diện của nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) và ông Võ Huỳnh Quốc T ký hợp đồng tín dụng số LD1829800444 ngày 25/10/2018. Số tiền vay là 20.000.000 đồng; thời hạn vay là 20 tháng; mục đích tiêu dùng cá nhân; lãi suất vay cố định là 1,7%/tháng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông T đã thanh toán cho ngân hàng số tiền gốc và lãi đến ngày 20/8/2019. Sau đó đến nay ông T không thanh toán. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông T vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông T vi phạm nghĩa vụ trả nợ, ngày 20/9/2019 Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.

Nay ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T trả số tiền tính đến ngày 17/6/2021: Số tiền gốc là 3.340.000 đồng; nợ lãi trong hạn 7.559.333 đồng; nợ lãi quá hạn là 3.779.667 đồng, tổng cộng là 14.679.000 đồng và tiếp tục trả lãi phát sinh theo hợp đồng cho vay đến khi tất nợ.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Võ Huỳnh Quốc T đã được cấp tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện ủy quyền của ngân hàng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

Xét về thủ tục tố tụng:

- Về quan hệ pháp luật: Giữa Ngân hàng và bị đơn ông Võ Huỳnh Quốc T ký kết ký hợp đồng tín dụng. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thanh toán nợ vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, mục đích vay tiêu dùng. Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng tín dụng quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại quận N nên tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận N quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về vắng mặt các đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông Võ Huỳnh Quốc T có hộ khẩu thường trú tại 139/157, đường 30/4, phường Xuân Khánh, quận N, thành phố C. Tòa án không tống đạt được cho bị đơn và đã tiến hành niêm yết thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải; giấy triệu tập và quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do.

Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Xét về nội dung:

- Về nợ: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Võ Huỳnh Quốc T trả nợ theo hợp đồng tín dụng ngày 25/10/2018, số tiền vay là 20.000.000 đồng với mục đích vay tiêu dùng, lãi suất 20,4%/năm (tương đương 1,7%/tháng), lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn. Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông Võ Huỳnh Quốc Tđã thanh toán cho Ngân hàng số tiền gốc và lãi đến ngày 20/8/2019. Do ông Võ Huỳnh Quốc T vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng được quy định tại Điều 1 các điều khoản chung về cấp tín dụng đính kèm hợp đồng tín dụng. Ngày 20/9/2019 Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn đối với khoản nợ vay đúng theo quy định Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng.

Tính đến ngày 17/6/2021, ông Võ Huỳnh Quốc T còn nợ ngân hàng tổng số tiền 14.679.000 đồng. Trong đó nợ gốc 3.340.000 đồng; nợ lãi trong hạn 7.559.333 đồng; nợ lãi quá hạn là 3.779.667 đồng. Yêu cầu của Ngân hàng buộc ông Võ Huỳnh Quốc T trả tổng số tiền 14.679.000 đồng tính đến ngày 17/6/2021 và trả lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi tất nợ là có cơ sở đúng quy định khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Về án phí dân sự sơ thẩm bị đơn phải chịu 733.950 đồng. Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, điểm e khoản 1 Điều 192, Điều 147, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S.

- Buộc bị đơn ông Võ Huỳnh Quốc T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền gốc 3.340.000 đồng, nợ lãi tính đến ngày 17/6/2021 là 11.339.000 đồng. Tổng cộng gốc và lãi 14.679.000 đồng (Mười bốn triệu, sáu trăm bảy mươi chín nghìn đồng) và phải chịu lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết tính từ ngày 18/6/2021 cho đến khi tất nợ.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Võ Huỳnh Quốc T phải chịu 733.950 đồng (Bảy trăm ba mươi ba nghìn, chín trăm năm mươi đồng).

Nguyên đơn được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 003531 ngày 05/01/2021 đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận N.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ