vanban.org

Bản án 93/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai Tuyên án 24/11/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng Án lệ số 11/2017/AL ngày 14-12-2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N. Buộc ông Ksor Đ và bà Rơ Châm H phải liên đới trả cho Ngân hàng N tổng số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng số 1270118/HĐTD ngày 30-01-2018 và giấy nhận nợ kiêm báo cáo đề xuất giải ngân ngày 31-01-2018 tính đến ngày 24-11-2021 là 216.575.342 đồng (hai trăm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng N - ông Ksor Đ và bà Rơ Châm H"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng Án lệ số 11/2017/AL ngày 14-12-2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng Dân sự buộc ông Ksor Đ và bà Rơ Châm H phải liên đới hoàn trả lại
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN G
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2021/DS-ST
Ngày: 24-11-2021
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHIỆPĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đính.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Diệu.

2. Ông Nguyễn Như Quang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Hạ - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 24-11-2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 61/2021/TLST-DS ngày 20 tháng 4 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2021/QĐXXST-DS ngày 30-9-2021, giữa:

- Nguyên đơn: Ngân hàng N; địa chỉ: Số H, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Võ Văn Sanh – Phó Giám đốc Ngân hàng N Chi nhánh huyện G Đông Gia Lai; địa chỉ: Số H, thị trấn K, huyện G, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Ksor Đ và bà Rơ Châm H; địa chỉ: Làng B, xã Y, huyện G, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Vũ Thị T; địa chỉ: Làng B, xã Y, huyện G, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngân hàng N (Ngân hàng) thông qua Chi nhánh huyện G Đông Gia Lai cho ông Ksor Đ và bà Rơ Châm H vay tiền theo Hợp đồng tín dụng số 1270118/HĐTD ngày 30-01-2018 và giấy nhận nợ kiêm báo cáo đề xuất giải ngân ngày 31-01-2018, số tiền vay là 150.000.000 đồng, mục đích vay là chăm sóc cà phê và mua vật dụng gia đình, thời hạn vay là 12 tháng, lãi suất 10%/năm, phân kỳ trả nợ là 01 kỳ ngày 31-01-2019, số tiền trả nợ là 150.000.000 đồng. Kỳ hạn trả lãi tiền vay là 03 tháng/lần vào ngày 31 của tháng thứ 3 (có thỏa thuận trả lãi hàng tháng). Khi vay tiền, để bảo đảm cho việc thực hiện nghiệpĩa vụ của hợp đồng tín dụng trên giữa Ngân hàng với ông Ksor Đ và bà Rơ Châm H có giao kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 622018/HĐTC ngày 26-01-2018. Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 53, tờ bản đồ số 84 tại xã N, huyện P, tỉnh Gia Lai đã được Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Gia Lai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 403866 ngày 18-01-2018 cho ông Ksor Đ và bà Rơ Châm H.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Ksor Đ và bà Rơ Châm H mới trả cho Ngân hàng tiền lãi đến ngày 14-11-2018 số tiền là 11.835.616 đồng, sau đó không tiếp tục trả tiền gốc và tiền lãi cho Ngân hàng như đã thỏa thuận nên ngày 01-02-2019 Ngân hàng chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn. Do ông Ksor Đ và bà Rơ Châm H vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Ksor Đ và bà Rơ Châm H phải trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền nợ tính đến ngày 24-11-2021 là 216.575.342 đồng, trong đó nợ gốc là 150.000.000 đồng, nợ lãi quá hạn là 63.369.863 đồng, tiền lãi trong hạn là 3.205.479 đồng và toàn bộ tiền lãi phát sinh đến thời điểm trả hết số tiền nợ.

2. Bị đơn là ông Ksor Đ và bà Rơ Châm H trình bày: Ông Ksor Đ và bà Rơ Châm H công nhận vợ chồng của ông bà có vay tiền của Ngân hàng N thông qua Chi nhánh huyện G Đông Gia Lai số tiền là 150.000.000 đồng, có thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để bảo đảm thực hiện việc trả nợ như phía Ngân hàng đã trình bày là đúng. Do điều kiện khó khăn nên ông Ksor Đ và bà Rơ Châm H chưa thanh toán đầy đủ số tiền nợ cho Ngân hàng như đã thỏa thuận, đến nay không có khả năng thanh toán nên đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Đối với Quyền sử dụng Thửa đất số 53, tờ bản đồ số 84 tại xã N, huyện P, tỉnh Gia Lai thì năm 2015, ông Ksor Đ và bà Rơ Châm H có cho bà Vũ Thị T thuê đất để trồng cà phê với giá là 65.000.000 đồng, thời hạn thuê đến năm 2035 như bà T trình bày là đúng.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Vũ Thị T trình bày: Vào tháng 6 năm 2015, bà Vũ Thị T có hợp đồng thuê đất của ông Ksor Đ và bà Rơ Châm H 01 thửa đất khoảng 06 sào (6000m2) để trồng cà phê, thời hạn thuê là từ năm 2015 đến năm 2035, khi thuê đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi thuê đất, bà T đã trồng cây cà phê trên đất và một phần trồng cây hàng năm là cây chanh dây. Khi thuê đất hai bên có làm hợp đồng bằng giấy viết tay như nội dung đã cung cấp cho Tòa án. Nay bà T được Tòa án thông báo về việc vợ chồng ông Ksor Đ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất mà bà T đã thuê và xác định là thửa số 53, tờ bản đồ 84 tại thôn 3, xã N, huyện P, tỉnh Gia Lai và vợ chồng ông Ksor Đ đã thế chấp thửa đất vay tiền tại Ngân hàng N, đến nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Ksor Đ trả tiền vay, trường hợp nếu họ không trả thì Ngân hàng xử lý tài sản nói trên. Việc Ngân hàng xử lý tài sản làm ảnh hưởng nghiệpiêm trọng đến quyền lợi của bà T vì bà là người đã vay tiền để trồng cây cà phê trên đất từ năm 2018 chứ không phải là vợ chồng ông Ksor Đ. Do vậy, bà T đề nghị trong trường hợp Ngân hàng xử lý tài sản thế chấp của vợ chồng ông Đ là thửa đất nói trên thì Ngân hàng phải cho bà T được tiếp tục thực hiện hợp đồng thuê đất đến năm 2035 là thời điểm kết thúc hợp đồng. Bà T không khởi kiện hay tranh chấp gì về hợp đồng thuê đất với vợ chồng ông Ksor Đ.

4. Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập các tài liệu, chứng cứ: Hợp đồng tín dụng số 1270118/HĐTD ngày 30-01-2018 và giấy nhận nợ kiêm báo cáo đề xuất giải ngân ngày 31-01-2018; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 622018/HĐTC ngày 26-01-2018; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 403866 ngày 18-01-2018; Đơn yêu cầu đăng ký thế chấp; Thông báo chuyển nợ quá hạn; Bảng kê tính lãi; Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh đăng ký thay đổi lần thứ 4 ngày 20-02-2017; Quyết định bổ nhiệm lại cán bộ ngày 22-02-2019; Quyết định ủy quyền ngày 27-12-2019; Thông báo về việc ủy quyền hết hiệu lực số 506/NHNo.IGĐGL-KHKD ngày 01-7-2021; Giấy ủy quyền số 447/NHNo.IGĐGL-TH/GUQ ngày 24-11-2021;Quyết định về việc giao nhiệm vụ đối với cán bộ số 1152/QĐ- NHNo –TCTL ngày 17-6-2021; Quyết định về sửa đổi, bổ sung Điều lệ ngày 18-12-2019; Quyết định ban hành Điều lệ ngày 23-4-2012; Điều lệ Ngân hàng N; Danh sách mạng lưới chi nhánh Ngân hàng N; Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 15-7-2021; Biên bản lấy lời khai ngày 03-8-2021; Đơn trình bày ngày 29-10-2021; Giấy hợp đồng đất trồng cà phê và giấy nhận tiền.

5. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G khẳng định trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, không chấp nhận đề nghị của người có quyền lợi, nghiệpĩa vụ liên quan là bà Vũ Thị T về việc yêu cầu được tiếp tục thực hiện hợp đồng thuê đất với ông Ksor Đ và bà Rơ Châm H đến năm 2035 đối với thửa đất số 53, tờ bản đồ số 84 tại xã N, huyện P, tỉnh Gia Lai là tài sản ông Ksor Đ và bà Rơ Châm H thế chấp tại Ngân hàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiệpiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn phù hợp với quy định của pháp luật, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại các Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét giải quyết. Hợp đồng giao kết giữa hai bên chủ thể trong đó có một bên chủ thể Ngân hàng là tổ chức tín dụng có đăng ký kinh doanh và một bên là bị đơn không có đăng ký kinh doanh nên được xác định là hợp đồng dân sự về tín dụng và pháp luật áp dụng là Bộ luật Dân sự và Luật Các tổ chức tín dụng; Trong quá trình giải quyết vụ án những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Hợp đồng tín dụng số1270118/HĐTD ngày 30-01-2018 và giấy nhận nợ kiêm báo cáo đề xuất giải ngân ngày 31-01-2018 giữa nguyên đơn với bị đơn được giao kết hợp pháp nên có hiệu lực, các bên trong hợp đồng có nghiệpĩa vụ thực hiện đúng và đầy đủ các điều khoản đã cam kết. Bị đơn vi phạm nghiệpĩa vụ của bên vay theo hợp đồng đã được giao kết nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả nợ là có căn cứ theo quy định tại Điều 463, Điều 466, Điều 470 của Bộ luật Dân sự. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N, buộc ông Ksor Đ và bà Rơ Châm H phải liên đới trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền nợ tính đến ngày 24-11-2021 là 216.575.342 đồng, trong đó nợ gốc là 150.000.000 đồng, nợ lãi quá hạn là 63.369.863 đồng, tiền lãi trong hạn là 3.205.479 đồng và toàn bộ tiền lãi phát sinh đến thời điểm trả hết số tiền nợ.

Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp, Hội đồng xét xử thấy rằng giữa Ngân hàng với ông Ksor Đ và bà Rơ Châm H có giao kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 622018/HĐTC ngày 26-01-2018. Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 53, tờ bản đồ số 84 tại xã N, huyện P, tỉnh Gia Lai đã được Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Gia Lai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 403866 ngày 18-01-2018 cho ông Ksor Đ và bà Rơ Châm H. Qua kết quả xem xét và thẩm định tại chỗ ngày 15-7-2021 thấy rằng, quyền sử dụng đất và tài sản trên đất không có tranh chấp. Vì vậy căn cứ vào Điều 299 của Bộ luật Dân sự, hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng.

Đối với hợp đồng thuê đất giữa vợ chồng ông Ksor Đ và bà Vũ Thị T, hợp đồng này được giao kết vào năm 2015 khi vợ chồng ông Ksor Đ chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hợp đồng không được đăng ký, chứng thực tại cơ quan có thẩm quyền nên vô hiệu. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận đề nghị của bà Vũ Thị T về việc yêu cầu được tiếp tục thực hiện hợp đồng thuê đất với ông Ksor Đ và bà Rơ Châm H đến năm 2035 đối với thửa đất số 53, tờ bản đồ số 84 tại xã N, huyện P, tỉnh Gia Lai là tài sản ông Ksor Đ và bà Rơ Châm H thế chấp tại Ngân hàng. Nếu bà T có tranh chấp với vợ chồng ông Ksor Đ về hợp đồng thuê đất nói trên thì sẽ được Tòa án xem xét bằng vụ kiện dân sự khác; Để bảo đảm quyền lợi cho bà Vũ Thị T, Hội đồng xét xử áp dụng Án lệ số 11/2017/AL ngày 14-12-2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao dành cho bà Vũ Thị T được quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng Quyền sử dụng Thửa đất số 53, tờ bản đồ số 84 tại xã N, huyện P, tỉnh Gia Lai đã được Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Gia Lai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 403866 ngày 18-01-2018 cho ông Ksor Đ và bà Rơ Châm H khi Ngân hàng yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 622018/HĐTC ngày 26-01-2018.

Về chi phí xem xét và thẩm định tại chỗ: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên căn cứ vào Điều 157, 158 của Bộ luật Tố tụng Dân sự buộc ông Ksor Đ và bà Rơ Châm H phải liên đới hoàn trả lại cho Ngân hàng N toàn bộ số tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 4.000.000 đồng.

Về án phí: Toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, bị đơn là người có nghĩa vụ trả nợ nên phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 288, Điều 299, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 của Bộ luật Dân sự; Điều 91, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng.

- Áp dụng Án lệ số 11/2017/AL ngày 14-12-2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

- Áp dụng Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án và Danh mục án phí, lệ phí tòa án Ban hành kèm theo Nghị quyết.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.

2. Buộc ông Ksor Đ và bà Rơ Châm H phải liên đới trả cho Ngân hàng N tổng số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng số 1270118/HĐTD ngày 30-01-2018 và giấy nhận nợ kiêm báo cáo đề xuất giải ngân ngày 31-01-2018 tính đến ngày 24-11-2021 là 216.575.342 đồng (hai trăm mười sáu triệu năm trăm bảy mươi lăm nghìn ba trăm bốn mươi hai đồng), trong đó nợ gốc là 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng), nợ lãi quá hạn là 63.369.863 đồng (sáu mươi ba triệu ba trăm sáu mươi chín nghìn tám trăm sáu mươi ba đồng), tiền lãi trong hạn là 3.205.479 đồng (ba triệu hai trăm không năm nghìn bốn trăm bảy mươi chín đồng) và toàn bộ tiền lãi phát sinh đến thời điểm trả hết số tiền nợ.

3. Trong trường hợp ông Ksor Đ và bà Rơ Châm H không trả đủ số tiền nợ nêu trên cho Ngân hàng N thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 622018/HĐTC ngày 26-01-2018. Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 53, tờ bản đồ số 84 tại xã N, huyện P, tỉnh Gia Lai đã được Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Gia Lai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 403866 ngày 18-01-2018 cho ông Ksor Đ và bà Rơ Châm H.

4. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

5. Tuyên bố hợp đồng thuê quyền sử dụng đất theo “Giấy hợp đồng đất trồng cà phê” giữa ông Ksor Đ với bà Vũ Thị T vô hiệu.

Trường hợp Ngân hàng N yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 622018/HĐTC ngày 26-01-2018 thì bà Vũ Thị T được ưu tiên nhận chuyển nhượng Quyền sử dụng Thửa đất số 53, tờ bản đồ số 84 tại xã N, huyện P, tỉnh Gia Lai đã được Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Gia Lai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 403866 ngày 18-01-2018 cho ông Ksor Đ và bà Rơ Châm H.

6. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Ksor Đ và bà Rơ Châm H phải liên đới hoàn trả lại cho Ngân hàng N toàn bộ số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng).

7. Về án phí: Buộc ông Ksor Đ và bà Rơ Châm H phải liên đới chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 10.828.767 đồng (mười triệu tám trăm hai mươi tám nghìn bảy trăm sáu mươi bảy đồng). Hoàn trả lại cho Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.021.918 đồng (năm triệu không trăm hai mươi mốt nghìn chín trăm mười tám đồng) theo Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí tòa án số 0011911 ngày 20-4-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Gia Lai.

8. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

9. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên toà thì có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ