- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 93 /2020/HNGĐ – ST Ngày: 07/8/2020 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đức Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Quốc Dũng;
2. Bà Nguyễn Thị Xuân Loan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Thành Thái – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Nhựt – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 279/2020/TLST-HNGĐ, ngày 21 tháng 5 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 169/2020/QĐXXST – HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 192/2020/QĐST – HNGĐ ngày 16/7/2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Kim H, sinh năm 1973.
Địa chỉ: 4B11, đường T, khóm H, phường Đ, thành phố X, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh N, sinh năm 1968.
Địa chỉ: 220/5, khóm A 2, phường M, thành phố X, tỉnh An Giang.
(Bà H có đơn xin xét xử vắng mặt; ông N vắng mặt lần thứ 2 không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng ngày 15/5/2020 và tại biên bản không tiến hành hòa giải được, nguyên đơn là bà Nguyễn Kim H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông N tự tìm hiểu yêu thương sau đó tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M vào ngày 04/4/2002. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được 18 năm sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng,vợ chồng không có tình cảm và đã ly thân từ năm 2017 đến nay. Bà H nhận thấy vợ chồng sống với nhau không hạnh phúc mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông N.
Về quan hệ con chung: Có 01 (một) con chung tên Nguyễn Thanh V, sinh ngày 30/12/1995, sau khi ly hôn bà Hkhông có yêu cầu đối với con chung do con đã trưởng thành và hiện đang sống với bà H.
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Nguyễn Thanh Nkhông nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà H và vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
* Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án:
Bà H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt vào ngày 17/6/2020, lý do phải đi làm ăn xa, điều kiện đi lại khó khăn nên không về dự tòa được. Ông N vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thành phần Hội đồng xét xử cũng như xác định quan hệ tranh chấp, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong vụ án đúng theo qui định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70 và 71 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Bị đơn mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng nhiều lần vắng không có lý do, không tham gia các phiên hòa giải, công khai chứng cứ, không trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Kim H đối với ông Nguyễn Thanh N.
Về con chung: Bà H và ông N có 01 (một) con chung tên Nguyễn Thanh V, sinh ngày 30/12/1995 đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không xét đến.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại Phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1.1] Tranh chấp giữa bà Nguyễn Kim H và ông Nguyễn Thanh N là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết.
Bà Nguyễn Kim H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt do phải đi làm ăn xa đi lại khó khăn nên không về dự tòa được. Căn cứ khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bà H.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo qui định tại Điều 177 và Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự, đồng thời tiến hành thu thập chứng cứ để xác định tình trạng cư trú của ông Nguyễn Thanh N và được Công an phường M, thành phố X cung cấp thông tin: “Ông Nguyễn Thanh N, sinh năm 1968 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại số 220/5A H, khóm 2, phường M, thành phố X, tỉnh An Giang”. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông N.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông N tự tìm hiểu yêu thương sau đó tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M vào ngày 04/4/2002. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được 18 năm sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng,vợ chồng không có tình cảm và đã ly thân từ năm 2017 đến nay. Bà H nhận thấy vợ chồng sống với nhau không hạnh phúc mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông N.
Phía bị đơn được Tòa án nhiều lần niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú của ông N. Tuy nhiên, ông N vẫn không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình qua yêu cầu ly hôn của bà H và không đến tham gia hòa giải. Như vậy, ông N đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của bị đơn được quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự và đồng nghĩa với việc ông không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân của mình.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng động viên bà H và tạo thêm thời gian để vợ chồng bà H, ông N có cơ hội để hàn gắn tình cảm. Tuy nhiên, bà H vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn vì từ khi vợ chồng ly thân đến nay khoảng hai năm nhưng ông N cũng không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Từ đó, có thể nhận thấy tình cảm của bà H dành cho chồng không còn, tình trạng mâu thuẫn trong hôn nhân của ông bà đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Xét thấy, mục đích hôn nhân giữa bà H và ông N không đạt được, nếu tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân này cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của bà H được ly hôn với ông N.
Về con chung: Bà H trình bày, bà và ông N có 01 (một) con chung tên Nguyễn Thanh V, sinh ngày 30/12/1995 đã trưởng thành, cò khả năng lao động và bà H cũng không có yêu cầu gì đối với con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà H trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung. Do bị đơn ông N cũng không có ý kiến về việc phân chia tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này, các bên phát sinh tranh chấp thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.
Về án phí: Bà Nguyễn Kim H phải nộp án phí Hôn nhân sơ thẩm theo qui định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 179; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238, Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kim H. Bà Nguyễn Kim H được ly hôn với ông Nguyễn Thanh N.
- Về con chung: Có một con chung tên Nguyễn Thanh V, sinh ngày 30/12/1995 đã trưởng thành, có khả năng lao động và bà Hên cũng không có yêu cầu gì đối với con chung nên không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
Về án phí: Bà Nguyễn Kim H phải chịu 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình. Do bà H đã nộp 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003030 ngày 20/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, bà H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Nguyễn Kim H và ông Nguyễn Thanh N được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự ; - VKSND TPLX; - THADS TPLX; - UBND P.Mỹ Xuyên; - Lưu hồ sơ./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Đức Anh |