- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần H trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Trần H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH TỈNH HOÀ BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 93/2018/HS-ST Ngày: 30/11/2018. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
- Chủ toạ phiên toà: Thẩm phán Trần Hữu Ngà.
- Các Hội thẩm nhân dân: Phạm Thị Nga, Ngô Thị Như Hoa.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bùi Thị Thảo.
- Đại diện VKSND thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: Kiểm sát viên Khuất Duy Xuân Quý.
Mở phiên tòa công khai ngày 30/11/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 87/2018/HSST ngày 16/10/2018, đối với bị cáo:
1/ Họ và tên: TRẦN H, sinh năm 1986; ĐKNKTT và cư trú: tổ NN, phường H, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; Văn hóa phổ thông: 12/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Bố là: Trần A; Mẹ là: Nguyễn T; Vợ là: Nguyễn TH; có 02 con;
Bị cáo có 01 tiền án:
1/ Bản án HSST số 93/2016/HSST ngày 26/4/2016 của TAND quận Thanh Xuân, Hà Nội xử phạt bị cáo 15 (Mười lăm) tháng tù giam, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 điều 194 BLHS năm 1999.
Bị cáo tại ngoại: có mặt tại phiên tòa.
Ngƣời bị hại: chị Nguyễn MH, sinh năm 1983; Địa chỉ: số nhà y, ngách x, ngõ NN, đường B, tổ o, phường H, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
Ngƣời liên quan: Nguyễn L, sinh năm 1992; Địa chỉ: tổ XX, phường T, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 28/5/2018, Phát hiện chị Nguyễn M để chiếc xe đạp địa hình hiệu TRINF trước cửa nhà không khóa và không có người trông coi, Trần H nảy sinh ý định chiếm đoạt. Bị cáo lén lút dắt xe đạp ra ngoài rồi đạp xe tẩu thoát. Hải đạp xe đến nhà Nguyễn L để tìm chá tiêu thụ tài sản, nhưng L không có ở nhà. Do cửa nhà L khóa, nên bị cáo đứng ngoài đợi. Đúng lúc này, cơ quan Công an phát hiện hành vi phạm tội của bị cáo, nên bắt giữ để xử lý.
Kết quả định giá trong tố tụng hình sự xác định xe đạp bị cáo trộm của chị H trị giá 3.300.000 đồng. Xe đã được trả lại cho người bị hại
Bản cáo trạng số 89/CT-VKS ngày 15/10/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình truy tố Trần H về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 điều 173 BLHS.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Đại diện Viện Kiểm sát, bị cáo có ý kiến như sau:
- Đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Tòa xử phạt Trần H từ 12 đến 15 tháng tù giam.
- Bị cáo Trần H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như cáo trạng đã truy tố; phù hợp các tài liệu, chứng cứ phản ánh trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quá trình điều tra, truy tố đối với bị cáo, Cơ quan điều tra và Viện Kiểm sát đã áp dụng các quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự để giải quyết vụ án.
Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã lén lút chiếm đoạt chiếc xe đạp địa hình của chị H trị giá 3.300.000 đồng là phạm tội “Trộm cắp tài sản”, thuộc khoản 1 điều 173 BLHS. Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội; xâm hại quyền sở hữu tài sản của cồng dân; gây mất trật tự, an toàn công cộng, nên phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự. Xét Trần H đã có 01 tiền án, chưa được xóa, lần này phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm”, theo quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 BLHS, nên phải xử phạt tù giam, để đảm bảo mục đích giáo dục, phòng ngừa.
Khi lượng hình cũng xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại là các tình tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1 điều 51 BLHS để áp dụng cho bị cáo.
Đối với Nguyễn L, xét không liên quan đến hành vi phạm tội của Trần H, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không đề cập xử lý, nên Tòa không xét.
Về trách nhiệm dân sự: chị Nguyễn H đã được trả lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường, nay không đề cập.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định chung.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 điều 173; các điểm h, s khoản 1 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52 của Bộ luật hình sự , xử phạt Trần H 12 (Mười hai) tháng tù giam, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.
2. Trần H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, người liên quan được kháng cáo phúc thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt được kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận kết quả xét xử.
Án xử sơ thẩm công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hòa Bình; - VKSND thành phố; - Chi Cục THADS thành phố; - Công an thành phố; - Sở Tư pháp tỉnh Hòa Bình; - Bị cáo, Người liên quan; - CA, UBND cấp xã nơi BC cư trú; - Lưu HSVA + HSTHAHS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Hữu Ngà |