vanban.org

Bản án 93/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 02/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Quang Huy M phạm tội “Cướp giật tài sản”

Xử phạt bị cáo Trần Quang Huy M 04 (bốn) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06-01-2019 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tran Quang Huy M Cuop giat tai san - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Quang Huy M phạm tội “Cướp giật tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2019/HS-ST
Ngày 02-7-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga

Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Khanh

2. Ông Phạm Văn Chính

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Hoàng Dũng- Thư ký Tòa án nhân dân huyện H Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh tham

gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Triệu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 02 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 75/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2019/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

Trần Quang Huy M.Giới tính:Nam. Sinh ngày: 09/7/1999. Nơi thường trú: 245/12 Đường Hoàng Văn Thụ, phường 1, Quận T, Thành phố H. Chỗ ở: 66/2d ấp 4, xã X, huyện H, Thành phố H. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 6/12. Cha: Trần Quang Ng, sinh năm 1975. Mẹ: Bùi Thị Huy Th, sinh năm 1976. Anh, chị, em ruột: Có 03 người, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2011. Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam ngày 06-01-2019

Người bị hại:

- Chị Nguyễn Thị Tuyết A, sinh năm 1993; địa chỉ: 29/7E ấp T, xã B, huyện H, Thành phố H (vắng mặt)

- Chị Huỳnh Thị Tường V, sinh năm 2001; địa chỉ: 71/11 Đường Nguyễn Phúc Chu, phường 15, quận T, Thành phố H (vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Trần Quang Ng, sinh năm 1975. Địa chỉ: 66/2d ấp 4, xã X, huyện H, Thành phố H (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 15 giờ 00 phút ngày 06/01/2019, Trần Quang Huy M điều khiển xe gắn máy hiệu Wave màu đỏ biển số: 52H8 – 6134 lưu thông trên đường chở Lê Thanh T ( hiện đang bỏ trốn) đang lưu thông trên đường Phan Văn Đ thì T kêu M quay xe lại lúc nay M biết T kêu vậy là chuẩn bị cướp giật điện thoại, T chỉ cho M chạy vào con hẻm. Khi đến trước nhà số 29/7A đường Tiền Lân 19D, ấp T, xã B, huyện H, TP.H phát hiện thấy chị Huỳnh Thị Tường V sinh năm 2001 đang cầm điện thoại hiệu OPPO F7 màu đỏ trên tay nhắn tin, M liền điều khiển xe ép sát vào chị V, T dùng tay phải giật lấy điện thoại xong cả hai bỏ chạy một đoạn thì bị té ngã xuống đường. Lúc này M và T đứng dậy bỏ xe chạy bộ vài mét thì M bị người dân bắt giữ quả tang cùng chiếc điện thoại và phương tiện giao cho Công an huyện H lập hồ sơ xử lý. Riêng tên T bỏ chạy thoát.

Trước đó vào lúc 01 giờ 00 ngày 06/01/2019, M điều khiển xe gắn máy chở tên Ngh ( chưa xác định và chưa rõ biển số xe của Ngh) đi đến trước hãng bia Hoàng Q ( bia Sài Gòn) thuộc tổ 8, ấp T, xã B, huyện H phát hiện thấy ông Nguyễn Thanh A điều khiển xe gắn máy chở bà Nguyễn Thị T anh đeo 01 giỏ xách bên trong có 01 điện thoại OPPO F3 Plus, 380.000 đồng, 01 chìa khóa xe, M điều khiển xe ép sát bên trái xe của ông A, Ngh dùng tay phải giật lấy giỏ xách của bà A rồi cả hai tăng ga bỏ chạy tẩu thoát.

Ngoài ra M còn khai nhận đã cùng tên Ngh (chưa xác định ) thục hiện 02 vụ cướp giật tại địa bàn quận T và 01 vụ ở địa bàn huyện B lấy được 03 điện thoại hiện Công an huyện H đã thu giữ chưa xác định bị hại nên đã có công văn thông báo cho Công an quận Tân Bình và Công an huyện B biết để tiếp nhận điều tra xử lý theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) xe gắn máy BS: 52H8 – 6134 cùng 01 đăng ký xe BS: 52H8 – 6134 thu của M. Qua xác minh được biết chiếc xe mang biển số giả, giám định số khung, số máy không có dữ liệu nên không xác định chủ sở hữu.

- 01 (một) điện thoại hiệu OPPO F7 màu đỏ. Đã trả lại cho chị V là chủ sở hữu quản lý sử dụng.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO F3 màu vàng. Đã trả lại cho chị A là chủ sở hữu quản lý sử dụng.

-01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy màu đen, 01 điện thoại di động hiệu HUAWEI màu đen hiện chưa xác định chủ sở hữu nên Công an huyện H đã nhập kho lưu giữ chờ xử lý.

- 01(một) áo khoác màu đen của tên Tân.

Theo kết quả định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H xác định điện thoại hiệu OPPO F7 màu đỏ trị giá 3.000.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu OPPO F3 màu vàng trị giá 4.500.000 đồng.

Cáo trạng số 76/CT ngày 17-5-2019 của Viện Kiểm sát nhân dân Huyện H, Thành phố H truy tố bị cáo Trần Quang Huy M phạm tội “Cướp giật tài sản” theo Điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Hóc Môn, thực hành quyền công tố giữ nguyên cáo trạng đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo: Trần Quang Huy M phạm tội “Cướp giật tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng Điểm d Khoản 2 Điều 171; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Quang Huy M từ 3 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù.

Về xử lý vật chứng:

- Tiêu hủy: 01 áo khoác màu đen.

- Chị Vi đã nhận lại 01 (một) điện thoại hiệu OPPO F7 màu đỏ và chị Tuyết A đã nhận lại 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO F3 màu vàng xong.

-01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy màu đen, 01 điện thoại di động hiệu HUAWEI màu đen hiện chưa xác định chủ sở hữu nên Công an huyện H đã nhập kho lưu giữ chờ xử lý.

- 01 (một) xe gắn máy BS: 52H8 – 6134 cùng 01 đăng ký xe BS: 52H8 – 6134 thu của M. Qua xác minh được biết chiếc xe mang biển số giả, giám định số khung, số máy không có dữ liệu nên không xác định chủ sở hữu. Giao Chi cục Thi hành án xử lý theo thẩm quyền.

Bị cáo M không có ý kiến tranh luận và lời nói sau cùng bị cáo hối hận việc đã làm, nên xin Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an Huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Trần Quang Huy M thừa nhận hành vi phạm tội của mình: Trong ngày 06/01/2019 bị cáo M đã sử dụng xe máy biển số 52H8 – 6134 thực hiện hai vụ cướp giật điện thoại di động của chị Tường V và Tuyết A. Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 50/2019 ngày 07/3/2019 kết luận: Điện thoại di động hiệu Oppo F3 Plus màu vàng trị giá 4.500.000 đồng; Điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ trị giá 3.000.000 đồng. Bị cáo đã dùng thủ đoạn nguy hiểm để cướp giật tài sản mà nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ của người bị hại hoặc của người khác...Hành vi của bị cáo M đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” theo Điểm d Khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hai bị cáo lười lao động, hành vi trộm cắp tài sản nhằm mục đích tiêu xài cá nhân làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại đại phương, nên cần xử lý nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện H, đề nghị áp dụng hình phạt tù giam để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội, biết chấp hành pháp luật là có căn cứ.

Trong quyết định hình phạt có xem xét: bị cáo M thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình được quy định tại Điểm s Khoản 1; gia đình bị cáo có ông nội là Trần Quang Ngh được tặng Huân huy chương kháng chiến, bà nội là bà Phùng Tuyết S được tặng Huân huy chương chiến sĩ vẻ vang; và nhiều huân huy chương; Ông ngoại, bà ngoại là người có công cách mạng được tặng thưởng huân huy chương kháng chiến; đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

5.1 Tình tiết tăng nặng: Phạm tội nhiều lần theo Điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự

5.2 Đối với hành vi của Lê Thanh T cùng bị cáo cướp giật tài sản, hiện chưa bắt được, khi bắt được cần làm rõ xử lý sau

Về nhân thân: Bị cáo M không có tiền án, tiền sự, được xem xét có nhân thân tốt. Cần xem xét giảm mức hình phạt cho bị cáo

Về trách nhiệm dân sự: Chị V, chị Tuyết A đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường nên ghi nhận

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự

8.1 Xét thấy: 01 (một) xe gắn máy BS: 52H8 – 6134 cùng 01 đăng ký xe BS: 52H8 – 6134 thu của M. Qua xác minh được biết chiếc xe mang biển số giả, giám định số khung, số máy không có dữ liệu nên không xác định chủ sở hữu. Tuy nhiên, tại phiên tòa ông Trần Quang Ng cho rằng đây là chiếc xe ông mua của một người không nhớ họ tên, mua giấy tay, ông không có ý kiến gì về chiếc xe này cũng như không có yêu cầu nhận lại. Do đó, chiếc xe mang biển số 52H8 – 6134 được xác định là biển số giả nhưng là phương tiện bị cáo dung để gây án cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

8.2 Đối với diện thoại di động hiệu Iphone 7 màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy màu đen, 01 điện thoại di động hiệu HUAWEI màu đen hiện chưa xác định chủ sở hữu nên Công an huyện H đã nhập kho lưu giữ chờ xử lý. Do đó, cần giao Cơ quan Công an Cảnh sát điều tra Công an huyện H xử lý theo thẩm quyền.

8.3 01 áo khoác màu đen không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy

Về hình phạt bổ sung: Không phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí: Bị cáo Trần Quang Huy M phải chịu 200.000 ngàn đồng án phí hình sự sơ thẩm

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Quang Huy M phạm tội “Cướp giật tài sản”

Căn cứ Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51; Điểm g Điều 52; Điểm d Khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Quang Huy M 04 (bốn) năm tù.

Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06-01-2019

2. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận chị Huỳnh Thị Tường V, chị Nguyễn Thị Tuyết A đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự

3.1 Tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác màu đen

3.2 Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) xe gắn máy BS: 52H8 – 6134 cùng 01 đăng ký xe BS: 52H8 – 6134 có sung số như đã ghi tại phiếu nhập kho ngày 27/4/2019 (bút lục 37).

3.3 Giao Cơ quan Công an Cảnh sát điều tra Công an huyện H xử lý theo thẩm quyền: Đối với diện thoại di động hiệu Iphone 7 màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy màu đen, 01 điện thoại di động hiệu HUAWEI màu đen

4. Về hình phạt bổ sung: Không phạt bổ sung đối với bị cáo.

5. Về án phí: Bị cáo Trần Quang Huy M phải chịu 200.000 ngàn đồng án phí hình sự sơ thẩm

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân Thành phố H. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA -Phòng KTNV.TATpHCM; -VKSND Huyện Hóc Môn;

- VKSND TpHCM;

- CQĐT CA H Hóc Môn;

- Chi cục THA DS H Hóc Môn;

- Nhà tạm giữ CA HM;

- Thi hành án phạt tù;

Nguyễn Thị Thúy Nga

- Bị cáo;

- Hồ sơ; Lưu./.

Cỡ chữ