vanban.org

Bản án 93/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Lê Yến N đối với anh Nguyễn Ngọc C.

Vợ chồng có một người con chung tên Nguyễn Bách L, sinh ngày: 07/8/2015. Hiện nay cháu L đang ở với chị N. Tiếp tục giao cháu Nguyễn Bách L cho chị Trương Lê Yến N trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của anh C vì chị N không yêu cầu. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị Trương Lê Yến N và anh Nguyễn Ngọc C"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Lê Yến N đối với anh Nguyễn Ngọc C.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ A
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 93/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 10-5-2019
V/v tranh chấp “Ly hôn, con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đảm. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hồ Xuân Dũng 2. Bà Nguyễn Thị Thảo.

- Thư ký phiên tòa: Ông Mang Đức Kham – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã A, tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Ông Lưu Công Quyền – Kiểm sát viên. Ngày 10 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 61/2019/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 01 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2019/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Chị Trương Lê Yến N, sinh năm: 1991 (Có mặt) Địa chỉ: Đường N, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định. 2. Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc C, sinh năm: 1989 (Vắng mặt) Địa chỉ: Đường T, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện, các thủ tục tố tụng tiếp theo và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trương Lê Yến N trình bày:

Về hôn nhân: Trước khi cưới, chị và anh Nguyễn Ngọc C có tìm hiểu nhau khoảng sáu tháng rồi tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn vào năm 2014 tại UBND phường N. Sau khi cưới, vợ chồng chị sinh sống và làm việc tại Đà Nẵng. Khoảng năm 2015, chị và anh C trở về sống tại nhà cha mẹ chồng tại đường T, phường N, thị xã A. Đầu năm 2019 thì vợ chồng chị không còn sống chung. Cuộc sống vợ chồng ngay từ thời gian đầu đã không có hạnh phúc. Nguyên nhân là do trong cuộc sống anh C thường xuyên đi nhậu, cờ bạc gây nợ nần. Chị có khuyên nhưng anh C không nghe mà còn đập phá đồ đạc trong nhà và xúc phạm chị. Trước khi cưới chị vẫn biết anh C bản tính chơi bời nhưng chị hi vọng sau khi cưới thì anh C thay đổi tính tình để chăm lo cho gia đình. Tuy nhiên đến nay anh C vẫn tiếp tục ăn chơi cờ bạc và nợ nần rất nhiều. Từ khoảng tháng 01/2019 thì vợ chồng chị sống ly thân. Trong thời gian này, anh C cũng động viên chị về sống chung nhưng tôi không đồng ý. Chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Ngọc C.

Về con chung: Vợ chồng có một người con chung tên Nguyễn Bách L, sinh ngày: 07/8/2015. Hiện nay cháu L đang ở với chị. Tôi yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000đ. Ngày 26/3/2019, chị tự nguyện rút yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị xác định vợ chồng không có tài sản chung. Vợ chồng không nợ ai, không ai nợ vợ chồng.

Bị đơn anh Nguyễn Ngọc C được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã A phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Lê Yến N đối với anh Nguyễn Ngọc C. Về con chung: Vợ chồng có một người con chung tên Nguyễn Bách L, sinh ngày: 07/8/2015. Hiện nay cháu L đang ở với chị N. Giao cháu L cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của anh C vì chị N không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: chị N xác định vợ chồng không có tài sản chung. Vợ chồng không nợ ai, không ai nợ vợ chồng nên miễn xét. Về án phí: chị N phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng

Chị Trương Lê Yến N yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Ngọc C ở đường T, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã A.

Anh Nguyễn Ngọc C mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã A vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh C.

Về nội dung

Về hôn nhân

Chị Trương Lê Yến N và anh Nguyễn Ngọc C đủ điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn vào năm 2014 tại UBND phường N, thị xã A nên theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh C được pháp luật công nhận.

Hạnh phúc vợ chồng chỉ được duy trì khi cả hai cùng thương yêu, chăm sóc, sống chung với nhau và cùng nhau san sẻ những khó khăn trong cuộc sống. Trong quá trình chung sống, giữa chị N và anh C đã xảy ra nhiều mâu thuẫn làm cho tình cảm vợ chồng bị rạn nứt nghiêm trọng. Qua xác minh được mọi người cung cấp vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh C nhiều lần chơi cờ bạc và gây nên khoản nợ lớn.

Xét yêu cầu ly hôn của chị N, Hội đồng xét xử thấy rằng: Trước khi cưới, chị N và anh C có tìm hiểu nhau là tiền đề cho cuộc hôn nhân hạnh phúc. Trải qua một khoảng thời gian chung sống, vợ chồng đã không cùng nhau chăm lo phát triển kinh tế mà anh C còn nhiều lần cờ bạc dẫn đến kinh tế gia đình càng khó khăn hơn. Từ tháng 01/2019 đến nay, cả hai vợ chồng đã chấm dứt cuộc sống chung và giữa họ không còn yêu thương và quan tâm nhau nữa. Năm 2018, chị N đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh C nhưng qua động viên, phân tích của Tòa án, chị N đã tự nguyện rút đơn để vợ chồng có thể cho nhau thêm cơ hội xây dựng lại mái ấm gia đình. Tuy nhiên, mâu thuẫn vợ chồng lại tiếp diễn nên vợ chồng không thể sống chung với nhau được nữa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu ly hôn của chị N là có căn cứ chấp nhận.

Về con chung

Vợ chồng có một người con chung tên Nguyễn Bách L, sinh ngày: 07/8/2015. Hiện nay cháu L đang ở với chị N. Chị Ngọc yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con.

Xét yêu cầu của chị N, Hội đồng xét xử thấy rằng: Mặc dù cháu L chưa đủ bảy tuổi nên chưa thể xem xét nguyện vọng của cháu khi chị N, anh C ly hôn. Tuy nhiên, cháu L còn nhỏ, mọi sinh hoạt hằng ngày của cháu rất cần bàn tay chăm sóc chu đáo của người mẹ. Hơn nữa, cháu L đang được chị N chăm sóc, nuôi dưỡng từ khi chị N và anh C không còn sống chung với nhau. Do đó, việc giao cháu L cho chị N trực tiếp chăm sóc, giáo dục sau khi ly hôn là bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của cháu L, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình nên yêu cầu của chị N là có căn cứ chấp nhận. Chị N không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của anh C.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị N xác định vợ chồng không có tài sản chung. Vợ chồng không nợ ai, không ai nợ vợ chồng nên miễn xét.

Về án phí: Chị N phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về ý kiến của Kiểm sát viên: Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 51, khoản 1 Điều 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Lê Yến N đối với anh Nguyễn Ngọc C.

2. Vợ chồng có một người con chung tên Nguyễn Bách L, sinh ngày: 07/8/2015. Hiện nay cháu L đang ở với chị N. Tiếp tục giao cháu Nguyễn Bách L cho chị Trương Lê Yến N trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của anh C vì chị N không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có yêu cầu theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị N xác định vợ chồng không có tài sản chung. Vợ chồng không nợ ai, không ai nợ vợ chồng nên miễn xét.

4. Về án phí: Chị Trương Lê Yến N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0008909 ngày 29/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã A.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Trương Lê Yến N có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng anh Nguyễn Ngọc C vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”

Cỡ chữ