- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Đ và Võ Quốc V"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Đ và anh Võ Quốc V.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 93/2019/HNGĐ-ST Ngày: 12 - 11 - 2019. V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân Lan
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Thị Amina
2. Ông Nguyễn Văn Thượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Hào - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 503/2019/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1984. Có mặt.
Địa chỉ: Tổ 12, ấp ĐK 1, xã T, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
2. Bị đơn: Anh Võ Quốc V, sinh năm 1987. Có mặt.
HKTT: Tổ 1, ấp L, xã H, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Nơi cư trú: Tổ 12, ấp ĐK 1, xã T, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 27 tháng 6 năm 2019, cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Đ trình bày:
Chị và anh Võ Quốc V sống chung với nhau vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh năm 2015. Việc sống chung với nhau là tự nguyện, không ai ép buộc. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng thời gian gần đây phát sinh nhiều mâu thuẫn không còn hạnh phúc nữa; nguyên nhân mâu thuẫn do anh V ghen tuông, không tin tưởng, gây gỗ, xúc phạm chị.
Hiện tại, chị và anh V đã sống ly thân. Nay, về hôn nhân chị yêu cầu ly hôn với anh V.
Về con chung: Chị và anh V có 01 người con chung tên Võ Thị Trúc L, sinh ngày 17/6/2015. Khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 16 tháng 9 năm 2019, cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Võ Quốc V trình bày:
Chị Đ trình bày về thời gian sống chung và đăng ký kết hôn, con chung, tài sản chung, nợ chung là đúng, anh không có ý kiến trình bày bổ sung. Về mâu thuẫn trong hôn nhân, theo anh nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng ghen tuông, không tin tưởng lẫn nhau.
Chị Đ yêu cầu ly hôn, anh không đồng ý vì vẫn còn tình cảm với chị Đ, yêu cầu được đoàn tụ.
Nếu Tòa án giải quyết cho anh và chị Đ ly hôn, về con chung anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Võ Thị Trúc L, sinh ngày 17/6/2015, không yêu cầu chị Đ cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Thời hạn thụ lý, giải quyết vụ án; việc cấp tống đạt văn bản pháp luật và việc tuân thủ quy định pháp luật của người tham gia tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Đ đối với anh Võ Quốc V.
Về nuôi con chung: Giao con chung Võ Thị Trúc L, sinh ngày 17/6/2015
cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận chị Đ không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Đ và anh Võ Quốc V không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Đ phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Đ và anh Võ Quốc V chung sống với nhau từ năm 2014, hôn nhân tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh vào ngày 29 tháng 7 năm 2015, Giấy đăng ký kết hôn số 77, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xét yêu cầu ly hôn của chị Đ, Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong quá trình chung sống, giữa chị Đ và anh V phát sinh mâu thuẫn, mà nguyên nhân mâu thuẫn là về lối sống, nhưng anh V không thừa nhận. Anh V cho rằng anh và chị Đ không có mâu thuẫn gì trầm trọng, anh vẫn còn tình cảm với chị Đ nên không đồng ý ly hôn. Căn cứ vào các biên bản xác minh ngày 25 tháng 10 năm 2019 (tại các bút lục số 21,22) tại địa phương thấy rằng mâu thuẫn hôn nhân giữa chị Đ và anh V là do anh V uống rượu, gây gỗ, xô xác với chị Đ, hiện tại mục đích của hôn nhân của anh chị không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị Đ đối với anh V là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận, cho chị Đ được ly hôn với anh V.
Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Đ và anh Võ Quốc V có 01 con chung tên Võ Thị Trúc Linh, sinh ngày 17/6/2015. Chị Đ yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Linh, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con. Anh V cũng yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu Linh. Xét điều kiện nuôi con chung thấy rằng: Hiện tại chị Đ đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Linh, chị Đ có việc làm, có thu nhập, nhà ở ổn định còn anh V cũng có thu nhập, nhưng nơi ở không ổn định. Để đảm bảo cho sự ổn định, phát triển tâm sinh lý cho trẻ nên để chị Đ tiếp tục nuôi dưỡng cháu Linh là phù hợp. Chị Đ không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị Đ và anh V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Đ phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Đ và anh Võ Quốc V.
2.Về nuôi con chung: Giao con chung Võ Thị Trúc L, sinh ngày 17/6/2015 cho chị Nguyễn Thị Đ trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận chị Đ không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.
Anh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai được quyền cản trở.
3. Về chia tài sản chung, nợ chung: Ghi nhận chị Nguyễn Thị Đ và anh Võ Quốc V không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Đ phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng mà chị Đ đã nộp theo biên lai thu số 0015646 ngày 22/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận chị Đ đã nộp đủ tiền án phí sơ thẩm.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh Tây Ninh; - VKSND H.Tân Châu; - THA-DS H.Tân Châu; - UBND xã T; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Thị Xuân Lan |