- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu H, xử cho chị Nguyễn Thị Thu H và anh Nguyễn Văn M được ly hôn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 93/2018/HNGĐ-ST Ngày: 29/10/2018 V/v: “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Quang Vinh
Ông Păng Ting Nốck
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Lan - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 202/2018/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2018 về tranh chấp: “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2018/QĐXXST - HNGĐ ngày 17 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm: 1980
Hộ khẩu thường trú: số X đường Y, Phường Z, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Hiện đang tạm trú tại: số X đường C, Phường M, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm: 1974
Địa chỉ: số X đường Y, Phường Z, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
(Chị H có mặt, anh M vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn M xây dựng gia đình với nhau vào năm 2004 trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường 2, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Cuộc sống chung của vợ chồng hoà thuận hạnh phúc được khoảng 9 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, hai bên không có sự đồng cảm, chia sẻ với nhau trong cuộc sống hàng ngày dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn sự gắn bó nên vợ chồng đã sống ly thân nhau được 2 năm. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh M, chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh M. Về con chung, chị xác định vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Song Ý A, sinh ngày 09/3/2005, khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi cháu A, không yêu cầu anh Minh phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung chị xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn M đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo kết quả tiếp cận công khai chứng cứ, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập nhưng đều vắng mặt không có lý do và anh M cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình để gửi cho Tòa án.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng anh M vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Thu H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh M; về con chung, chị H yêu cầu được nuôi cháu Nguyễn Song Ý A, không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung chị H xác định vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.
Anh Nguyễn Văn M vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự phiên toà sơ thẩm, đương sự có mặt tại phiên toà đã chấp hành đúng nội quy phiên toà theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị H, xử cho chị H được ly hôn với anh M và giao con chung là Nguyễn Song Ý A cho chị H có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục, anh M không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung không có nên không đặt ra để giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Văn M đã được triệu tập hợp lệ trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tham gia phiên tòa hôm nay nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 cần xem xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung là phù hợp.
Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh M xây dựng gia đình với nhau vào năm 2004 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường 2, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Cuộc sống chung của vợ chồng hoà thuận hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Tại phiên toà, chị H xác định không còn tình cảm với anh M và giữ nguyên yêu cầu được ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh M đã trầm trọng do vợ chồng không thông cảm chia sẻ với nhau trong cuộc sống hàng ngày dẫn đến cuộc sống chung của vợ chồng luôn xảy ra xung đột, không hạnh phúc nên chị H đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và vợ chồng đã sống ly thân nhau gần 2 năm nhưng tình cảm vẫn không hàn gắn được. Vì vậy, nếu cứ kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các đương sự do mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn xin ly hôn của chị H, xử cho chị H và anh M được ly hôn là hoàn toàn phù hợp.
Về con chung: Chị H và anh M có 01 con chung là Nguyễn Song Ý A, sinh ngày 09/3/2005, khi ly hôn chị H có nguyện vọng được nuôi con. Xét thấy, hiện nay cháu A đang được chị H chăm sóc, nuôi dưỡng và cháu A cũng có nguyện vọng được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn. Vì vậy để đảm bảo sự ổn định về mặt tâm sinh lý của trẻ nhỏ cần tiếp tục giao con chung là Nguyễn Song Ý A cho chị H có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là hoàn toàn phù hợp.
Về việc cấp dưỡng nuôi con, do chị H không yêu cầu nên không đặt ra để xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị H xác định vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 147 ; Điều 266; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
1/ Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu H, xử cho chị Nguyễn Thị Thu H và anh Nguyễn Văn M được ly hôn.
2/ Về con chung: Giao con là Nguyễn Song Ý A, sinh ngày 09/3/2005 cho chị Nguyễn Thị Thu H có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con. Anh Nguyễn Văn M không phải cấp dưỡng nuôi con.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
3/ Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0007916 ngày 06 tháng 4 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt, chị H đã nộp đủ án phí.
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (29/10/2018). Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15(mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND tp. Đà Lạt; - Chi cục THADS tp. Đà Lạt; - Các đương sự; - Lưu: bộ phận lưu trữ, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thúy Ngọc |