- Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Công ty PV - Công ty TĐ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH thương mại và dịch vụ xây dựng TĐ;
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 928/2019/KDTM-PT Ngày: 21-10-2019 V/v tranh chấp hợp đồng mua bán. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Bùi Ngọc Anh
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Trinh
Bà Nguyễn Thu Chinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Ngọc Hân – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:
Bà Huỳnh Thị Kim Tuyến – Kiểm sát viên
Trong ngày 11 và ngày 21 tháng 10 năm 2019, tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 81/2019/TLPT-KDTM ngày 22 tháng 7 năm 2019 về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 23/2019/KDTM-ST ngày 30 tháng 05 năm 2019 của Toà án nhân dân Quận 7 bị kháng cáo
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3722/2019/QĐ-PT ngày 21 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty Cổ phần Đầu tư PV
Địa chỉ: 37 đường H, Phường H1, quận H2,
Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện: Ông Nguyễn Thượng T, sinh năm 1960
Văn bản ủy quyền ngày 29-11-2017
(Có m t)
Bị đơn: Công ty TNHH thương mại dịch vụ xây dựng TĐ
Địa chỉ: 60/40 Lâm Văn Bền, phường Tân Kiểng, Quận 7,
Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện: Ông Nông Minh Đ, sinh năm 1977
Văn bản ủy quyền số 01/UQ-2018 ngày 25-4-2018
(Có m t)
NỘI DUNG VỤ ÁN
I- Tóm tắt nội dung vụ án theo bản án sơ thẩm:
1- Nguyên đơn trình bày:
Ngày 16-6-2007, Công ty cổ phần đầu tư PV (gọi là Công ty PV ký Hợp đồng kinh tế số 7/HĐKT-07 với Công ty TNHH thương mại – dịch vụ – xây dựng TĐ (gọi là Công ty TĐ , nội dung như sau: Công ty PV cung cấp cho Công ty TĐ cọc Bê tông cốt thép U T quy cách 2 0x2 0 và quy cách 300x300 cho công tr nh C Tech, đường 18, Khu chế xuất Tân Thuận, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, tổng giá trị hợp đồng là 623.90 .000 đồng (đ bao gồm thuế VAT
Ngày 10-8-2007, hai bên tiếp tục ký bổ sung Phụ lục hợp đồng số 01, Công Ty PVcung cấp bổ sung khối lượng cọc Bê tông cốt thép U T 2 0x2 0 và 300x300 cho Công Ty TĐ tại công tr nh C Tech tại đường 18, Khu chế xuất Tân Thuận, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. iá trị bổ sung hợp đồng là 441.819.000 đồng (đ bao gồm
thuế VAT . Tổng cộng giá trị Hợp đồng kinh tế số 7/HĐKT-07 và Phụ lục hợp đồng số 01 là 1.06 .724.000 đồng.
Công ty TĐ đ thực hiện việc chuyển tiền cho nguyên đơn nên phía nguyên đơn tiếp tục thực hiện công việc đ giao kết, cụ thể thể hiện ở các phiếu thu ngày 07/12/2007, ngày 05/02/2008, ngày 13/11/2008
Sau khi hoàn thành công việc hai bên đ tiến hành lập Biên bản tổng nghiệm thu khối lượng vào ngày 23/10/2007 và có xác nhận của hai bên. Trong quá tr nh thực hiện hợp đồng giá trị có thay đổi, Công Ty PV cung cấp khối lượng tương ứng với số tiền: 1.104.0 8.988 đồng (bao gồm
thuế VAT .
Về thanh toán sau khi có bản đề nghị thanh toán ngày 30/10/2007 của Công Ty PV, Công Ty TĐ chỉ thanh toán 4 0.000.000 đồng. Ngày 12/08/2008, Công Ty PV tiếp tục gửi đề nghị thanh toán cho Công Ty TĐ yêu cầu thanh toán số tiền còn lại và tiền l i với số tiền là: 734.11 .808 đồng (trong đó bao gồm 6 4.0 8.988 đồng tiền nợ gốc và 80.0 6.820 đồng tiền l i , khi nhận được thông báo trả nợ này, Công Ty TĐ chỉ trả cho Công Ty PV số tiền là 1 0.000.000 đồng.
Ngày 18/8/2010, Công Ty PV tiếp tục gửi giấy đề nghị thanh toán cho Công Ty TĐ trong đó yêu cầu Công Ty TĐ thanh toán số tiền: nợ gốc 04.0 8.988 đồng và tiền l i từ ngày 09/4/2008 đến ngày 13/11/2008 là: 91.339.338 đồng + tiền l i từ ngày 14/11/2008 đến ngày 18/8/2010 là: 323.908.306 đồng, tổng số tiền Công Ty PV yêu cầu thanh toán trong đợt này là: 919.30 .632 đồng.
Ngày 20/9/2017, Công ty PV có gửi công văn yêu cầu Công Ty TĐ thanh toán số tiền nợ gốc là: 04.0 8.988 đồng mà không yêu cầu Công Ty TĐ trả l i chậm trả, lần gửi này có giấy báo phát của công ty Chuyển phát nhanh.
Đối với yêu cầu áp dụng áp dụng thời kiệu khởi kiện quy định tại Điều 429 và khoản 2 Điều 149 Bộ Luật Dân sự 201 của bị đơn, nguyên đơn có ý kiến trường hợp này phía nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả lại số tiền 04.0 8.988 đồng mà nguyên đơn đ thực hiện và ngày 20/9/2017 Công ty có thông báo đề nghị thanh toán nên nguyên đơn không đồng ý.
Đối với vấn đề biên bản nghiệm thu công tr nh mà bị đơn cho rằng không được lập và ký bởi người đại diện theo pháp luật của công ty TĐ, nguyên đơn tr nh bày v Hợp đồng không quy định người đại diện theo pháp luật phải ký mà nhân viên có mặt tại hiện trường cũng có quyền ký
Đối với vấn đề người đại diện theo pháp luật là ông Lư ia M nhưng ông Trương Quang M’ lại là người ký hợp đồng kinh tế số 7/HĐKT – 07 ngày 16/6/2007 và phụ lục hợp đồng số 01 ngày 10/8/2007 mà không có giấy ủy quyền của người đại diện theo pháp luật là ông Lư ia M ủy quyền cho người khác ký hợp đồng này. Nguyên đơn tr nh bày phía công ty TĐ đ thực hiện việc chuyển tiền cho nguyên đơn nên phía nguyên đơn tiếp tục thực hiện công việc đ giao kết, cụ thể thể hiện ở các phiếu thu ngày 07/12/2007, ngày 05/02/2008, ngày 13/11/2008
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH thương mại - dịch vụ - xây dựng TĐ trả lại cho Công ty PVsố tiền là 04.0 8.988 đồng, tất cả trả làm một lần ngay khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực.
2- Bị đơn trình bày:
Công ty TĐ được cấp phép lần đầu và ngày 12/4/1999 với người đại diện theo pháp luật là ông Lư ia M. Tuy nhiên trong hồ sơ khởi kiện Công ty PVlại đưa ra hợp đồng kinh tế số 7/HĐKT – 07 ngày 16/6/2007 và Phụ lục hợp đồng số 01 ngày 10/8/2007 mà Công ty PV ký với ông Trương Quang M’. Hồ sơ vụ án không có giấy ủy quyền của người đại diện theo pháp luật là ông Lư ia M ủy quyền cho người khác ký hợp đồng này, do đó các tài liệu trên không có giá trị chứng cứ.
Biên bản nghiệm thu công tr nh được lập và ký không phải người đại diện theo pháp luật của công ty TĐ. Công ty PV cho rằng công ty TĐ đ thanh toán cho công ty PV 02 lần với số tiền là 600.000.000 đồng nhưng không đưa ra được chứng từ thể hiện cho việc này.
Trường hợp hợp đồng giữa các bên có hiệu lực, th căn cứ theo điểm 2.3 của hợp đồng, yêu cầu khởi kiện của công ty PV cũng đ hết thời hiệu khởi kiện. Công ty TĐ yêu cầu Tòa án áp dụng thời kiệu khởi kiện quy định tại Điều 429 và Khoản 2 Điều 149 của Bộ Luật Dân sự năm 201 để không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Các tài liệu, chứng cứ k m theo đơn khởi kiện của công ty PV trong vụ kiện này không có giá trị pháp lý ràng buộc trách nhiệm, nghĩa vụ của Công ty TĐ do không được ký kết bởi người có thẩm quyền.
Bị đơn không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
II- Nội dung quyết định của bản án sơ thẩm như sau:
1- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
2- Buộc Công ty TNHH thương mại – dịch vụ – xây dựng TĐ phải thanh toán cho Công ty cổ phần đầu tư PV số tiền là 04.0 8.988 đồng. Tất cả trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày Công ty Cổ phần Đầu tư PV có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong số tiền còn thiếu nêu trên, hàng tháng Công ty TNHH Thương mại – Dịch vụ – ây dựng TĐ còn phải trả tiền l i trên số tiền chậm trả theo l i suất nợ quá hạn trung b nh trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Bản án sơ thẩm cũng đã xác định nghĩa vụ chịu án phí, trách nhiệm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
III- Kháng cáo:
Đơn kháng cáo đề ngày 10-6-2019 của Công ty TNHH thương mại và dịch vụ xây dựng TĐ kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
IV- Tại phiên tòa phúc thẩm:
1) Đương sự kháng cáo trình bày:
Đại diện pháp luật của Công ty TĐ là là ông Lư ia M không ủy quyền cho ông Trương ia M’ ký Hợp đồng kinh tế số 7/HĐKT-07 ngày 16-6-2007 với Công ty cổ phần đầu tư PV.
Biên bản tổng nghiệm thu khối lượng ngày 23-10-2007 không có con dấu của Công ty TĐ, người ký biên bản là Nguyễn Ngọc không phải là nhân viên của Công TĐ và không được ủy quyền ký biên bản nghiệm thu.
Các phiếu thu của Công ty PV không rõ nguồn gốc, người nộp tiền không phải là nhân viên của Công ty TĐ nên các phiếu thu này không có cơ sở pháp lý.
Đơn khởi kiện của nguyên đơn hết thời hiệu theo qui định tại Điều 319 Luật Thương mại 200
Đề nghị cấp phúc thẩm chấp thuận đơn kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm.
2) Nguyên đơn trình bày:
iữa Công ty PV và Công ty TĐ chỉ có một giao dịch là Hợp đồng kinh tế số 7/HĐKT-07 ngày 16-6-2007. au khi ký biên bản nghiệm thu th bị đơn đ tiến hành thanh toán nhiều lần, số tiền con nợ là 04.0 8.988 đồng.
Trước khi khởi kiện, nguyên đơn đ gửi văn bản yêu cầu bị đơn thanh toán nợ. Yêu cầu cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm:
1- Việc chấp hành pháp luật tố tụng
Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đ thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn, Hội đồng xét xử đúng thành phần và phiên tòa thực hiện đúng tr nh tự, thủ tục theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 201 .
Các đương sự chấp hành đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự 201 .
2- Xét nội dung kháng cáo:
Công ty TĐ có yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ban hành bản án nên căn cứ Khoản 2 Điều 184 Bộ luật tố tụng Dân sự 201 , yêu cầu áp dụng thời hiệu của bị đơn là hợp lệ.
Hợp đồng kinh tế số 7/HĐKT-07 ngày 16-6-2007 và Phụ lục hợp đồng số 01 ngày 10-8-2017, các bên thỏa thuận tiến độ thanh toán: “Bên A thanh toán nốt cho bên B số tiền còn lại sau khi hai bên quyết toán hợp đồng, thời gian thanh toán trong vòng 05 ngày kể từ ngày hai bên ký nghiệm thu Bên B cung cấp hoàn tất khối lượng công việc của hợp đồng và bên B giao đầy đủ chứng từ thanh toán cho Bên A”. Ngày 23-10-2017, Công ty TĐ và Công ty đ ký Biên bản tổng nghiệm thu khối lượng. au ngày kể từ khi ký nghiệm thu mà chưa nhận được thanh toán th ben B phải biết được quyền và lợi ích của m nh đ bị xâm phạm.
Theo qui định tại Điều 319 Luật Thương mại 200 th thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp thương mại là 02 năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Tháng 12-2017, Công ty PVmới nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân Quận 7 là đ sau 10 năm kể từ ngày biết được quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Do đó, yêu cầu khởi kiện của Công ty PV đối với Hợp đồng kinh tế số 7/HĐKT-07 ngày 16-6-2007 là không còn thời hiệu khởi kiện.
Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Hủy bản án sơ thẩm, đ nh chỉ giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; nghe ý kiến tranh luận của các đương sự; nghe ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Đơn kháng cáo của Công ty TNHH thương mại và dịch vụ xây dựng TĐ nộp trong thời hạn qui định của pháp luật nên được xem xét theo tr nh tự phúc thẩm.
- em xét về nội dung kháng cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Theo lời tr nh bày của người đại diện của nguyên đơn th Công ty cổ phần đầu tư PVcó ký Hợp đồng kinh tế số 7/HĐKT-07 ngày 16-6-2007 và Phụ lục hợp đồng số 01 ngày 10-8-2017 với ông Trương Quang M’’ là đại diện cho Công ty TNHH thương mại và dịch vụ xây dựng TĐ về việc cung cấp cọc bê tông cốt thép cho công tr nh C Tech tại đương 18, khu chế xuất Tân Thuận, Quận 7. au khi thực hiện hợp đồng, ngày 23-10-2007, hai bên đ lập biên bản nghiệm thu khối lượng và nguyên đơn đ nhiều lần gửi văn bản yêu cầu Công ty TĐ trả nợ, văn bản lần cuối cùng là ngày 20-9-2017 nhưng Công ty TĐ mới chỉ trả được một phần, còn nợ 04.0 8.988 đồng và đến ngày 28-12-2017 thì Công ty cổ phần đầu tư PV gửi Đơn khởi kiện đối với Công ty TĐ.
Theo Điều 2.3 của Hợp đồng kinh tế số 7/HĐKT-07 ngày 16-6-2007, các bên thỏa thuận về tiến độ thanh toán đợt cuối như sau: Bên A thanh toán nốt cho bên B số tiền còn lại sau khi hai bên quyết toán hợp đồng, thời gian thanh toán trong vòng 05 ngày kể từ ngày hai bên ký nghiệm thu Bên B cung cấp hoàn tất khối lượng công việc của hợp đồng và bên B giao đầy đủ chứng từ thanh toán cho Bên A.
Chứng từ thanh toán đợt cuối gồm:
- Biên bản nghiệm thu khối lượng cung cấp cọc.
- Biên bản bàn giao hồ sơ kỹ thuật sản xuất cọc.
- Hóa đơn giá trị gia tăng.
- Giấy đề nghị thanh toán
Ngày 23-10-2007, hai bên lập biên bản nghiệm thu khối lượng cọc đ cung cấp nên nghĩa vụ thanh toán của bị đơn phát sinh từ thời điểm này.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Công ty cổ phần đầu tư PV không chứng minh được đ gửi cho bị đơn các chứng từ yêu cầu thanh toán.
Công văn đòi nợ đề ngày 28-12-2017 của nguyên đơn không được bị đơn xác nhận nên xác định hai bên chưa đối chiếu công nợ.
Công ty TĐ có yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ban hành bản án nên được xem xét theo qui định tại Khoản 2 Điều 184 Bộ luật tố tụng Dân sự 201 .
Ngày 22-12-2017, nguyên đơn mới có Đơn khởi kiện là hết thời hiệu khởi kiện áp dụng đối với các tranh chấp thương mại là hai năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm theo qui định tại Điều 319 Luật Thương mại 200 .
Với những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH thương mại và dịch vụ xây dựng TĐ, Hủy bản án sơ thẩm, đ nh chỉ giải quyết vụ án căn cứ điểm e Khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng Dân sự 201 .
- Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Hủy bản án sơ thẩm, đ nh chỉ giải quyết vụ án là có căn cứ.
- Về án phí:
- Án phí sơ thẩm: Do đương sự có yêu cầu áp dụng thời kiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đ hết nên tạm ứng án phí được trả lại cho đương sự đ nộp căn cứ Khoản 3 Điều 218 Bộ luật tố tụng Dân sự 201 .
- Án phí phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên đương sự kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ nêu trên;
Căn cứ Khoản 4 điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015,
QUYẾT ĐỊNH:
1) Chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH thương mại và dịch vụ xây dựng TĐ;
Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 23/2019/KDTM-ST ngày 30 tháng 05 năm 2019 của Toà án nhân dân Quận 7; Đ nh chỉ giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán cọc bê tông, giữa:
Nguyên đơn: Công ty Cổ phần Đầu tư PV
Địa chỉ: 37 đường H, Phường H1, quận H2,
Thành phố Hồ Chí Minh
Bị đơn: Công ty TNHH thương mại dịch vụ xây dựng TĐ
Địa chỉ: 60/40 Lâm Văn Bền, phường Tân Kiểng, Quận 7,
Thành phố Hồ Chí Minh
2) Về án phí:
- Án phí sơ thẩm: Công ty cổ phần đầu tư PV được nhận lại tạm ứng án phí sơ thẩm đ nộp là 12.081.180 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0025078 ngày 25-01-2018 Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 7
- Án phí phúc thẩm: Công ty TNHH thương mại dịch vụ xây dựng TĐ được nhận lại lại tạm ứng án phí phúc thẩm đ nộp là 2.000.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0031254 ngày 13-6-2019 Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 7.
Bản án này có hiệu lực pháp luật ngay.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VK ND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - TAND Quận 7; - Chi cục THAD Quận 7; - Các đương sự; - Lưu VP, hồ sơ (Hân . | TM. HỘI ĐỒNG X T X PH C TH M TH M PHÁN – CHỦ T A PHI N TÒA Bùi Ngọc Anh |