vanban.org

Bản án 928/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 15/07/2021 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Ông Vũ Quốc H được ly hôn bà Nguyễn Thị Ngọc D.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Vũ Quốc H phải chịu 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0091960 ngày 06 tháng 7 năm 2020 của Cục Thi hành… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Quốc H- Nguyễn Thị Ngọc D"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Ông Vũ Quốc H được ly hôn bà Nguyễn Thị Ngọc D.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 928/2021/HNGĐ-ST
Ngày 15-7-2021
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Minh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thanh Mai;

2. Ông Huỳnh Phẩm Dũng Phát.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Thanh Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Cao Hoàng Thắng – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 230/2020/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2020 về “Tranh chấp ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 2271/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa sơ thẩm số 6439/2021/QĐ-ST ngày 15 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Vũ Quốc H, sinh năm: 1988 (vắng mặt).

Địa chỉ thường trú: Đường N, phường T, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ cư trú: Đường C, phường E, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm: 1985 (vắng mặt).

Địa chỉ: Hoa Kỳ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 25/6/2018 (nộp cho Tòa án ngày 25/6/2020) và lời khai của nguyên đơn – ông Vũ Quốc H thì: Ông và bà Nguyễn Thị Ngọc D tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thành phố H theo Giấy chứng nhận kết hôn ngày 28/01/2015, số vào sổ đăng ký kết hôn: 247, quyển số 02 ngày 29/01/2015. Sau khi kết hôn, bà Nguyễn Thị Ngọc D trở về Hoa Kỳ sinh sống. Mỗi năm vào dịp lễ, tết, bà Nguyễn Thị Ngọc D về Việt Nam chung sống với Ông khoảng 01 tháng. Ông và bà Nguyễn Thị Ngọc D thống nhất là bà Nguyễn Thị Ngọc D sẽ làm thủ tục để đưa Ông qua Hoa Kỳ chung sống với bà Nguyễn Thị Ngọc D nhưng không thành. Trong quá trình chung sống, giữa Ông và bà Nguyễn Thị Ngọc D phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Ông và bà Nguyễn Thị Ngọc D không còn liên lạc với nhau từ tháng 02/2019 cho đến nay. Do Ông và bà Nguyễn Thị Ngọc D không chung sống đã lâu; không có điều kiện để quan tâm, chăm sóc lẫn nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Ông khởi kiện yêu cầu ly hôn bà Nguyễn Thị Ngọc D. Ông và bà Nguyễn Thị Ngọc D không có con chung, không có tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc nuôi con, tài sản chung, nợ chung. Ông đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt Ông.

Tòa án đã ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Hoa Kỳ, nơi bị đơn – bà Nguyễn Thị Ngọc D, quốc tịch Việt Nam, cư trú, để tống đạt thông báo về việc thụ lý, ngày mở phiên họp, phiên tòa cho bà Nguyễn Thị Ngọc D theo quy định tại Điểm d, Khoản 1, Điều 474 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Ngọc D không có văn bản trả lời và vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên phát biểu:

Về tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ Khoản 2, Điều 37; Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa Gia đình và Người chưa thành niên – Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh thụ lý, giải quyết vụ án đúng thẩm quyền.

Về nội dung: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn ngày 28/01/2015, số vào sổ đăng ký kết hôn: 247, quyển số 02 ngày 29/01/2015 do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp thì quan hệ hôn nhân giữa ông Vũ Quốc H và bà Nguyễn Thị Ngọc D là hợp pháp. Xét thấy, giữa ông Vũ Quốc H và bà Nguyễn Thị Ngọc D không còn tình cảm vợ chồng, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được; cả hai sống ở hai nước khác nhau và không còn liên lạc nên không có cơ hội hàn gắn. Tòa án đã ủy thác tư pháp để tống đạt thông báo về việc thụ lý, ngày mở phiên họp, phiên tòa cho bà Nguyễn Thị Ngọc D theo quy định pháp luật nhưng bà Nguyễn Thị Ngọc D không có hồi âm. Do đó, việc ông Vũ Quốc H xin ly hôn là có căn cứ, tự nguyện, không trái quy định pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên có cơ sở chấp nhận. Căn cứ Khoản 1, Điều 51; Điều 53; Điều 55; Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Vũ Quốc H; về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; về án phí: Ông Vũ Quốc H phải chịu theo quy định pháp luật là 300.000 đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Ông Vũ Quốc H khởi kiện yêu cầu ly hôn bà Nguyễn Thị Ngọc D đang cư trú tại Hoa Kỳ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa Gia đình và Người chưa thành niên – Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Khoản 1, Điều 28; Điều 35; Điều 37; Điểm a, Khoản 2, Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Ông Vũ Quốc H vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bà Nguyễn Thị Ngọc D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng nên căn cứ Khoản 2, Điều 227; Điều 228; Khoản 5, Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Vũ Quốc H và bà Nguyễn Thị Ngọc D.

Về hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn ngày 28/01/2015, số vào sổ đăng ký kết hôn: 247, quyển số 02 ngày 29/01/2015 do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp thì quan hệ hôn nhân giữa ông Vũ Quốc H và bà Nguyễn Thị Ngọc D là hợp pháp. Từ tháng 02/2019 đến nay, vợ chồng ông Vũ Quốc H và bà Nguyễn Thị Ngọc D không chung sống; không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình là vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ Khoản 1, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, yêu cầu ly hôn của ông Vũ Quốc H có căn cứ để chấp nhận.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Ông Vũ Quốc H trình bày Ông và bà Nguyễn Thị Ngọc D không có con chung, tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Khoản 4, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Đ a, Khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì do ông Vũ Quốc H khởi kiện yêu cầu ly hôn nên ông Vũ Quốc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 1, Điều 28; Điều 35; Điều 37; Khoản 2, Điều 38; Khoản 4, Điều 147; Khoản 1, Điều 273 và Khoản 1, Khoản 2, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 19; Khoản 1, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ Điểm a, Khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Về hôn nhân: Ông Vũ Quốc H được ly hôn bà Nguyễn Thị Ngọc D.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Vũ Quốc H phải chịu 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0091960 ngày 06 tháng 7 năm 2020 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh. Ông Vũ Quốc H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại của Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm. Thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày đối với ông Vũ Quốc H và 01 (một) tháng đối với bà Nguyễn Thị Ngọc D kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ cho họ hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ