vanban.org

Bản án 926/2023/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 11/12/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/12/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn V. Giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2023/HS-ST ngày 28/6/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V, (tên gọi khác: Nguyễn Văn V2) phạm các tội “Giết người” và “Cướp tài sản”. 1. Đối với tội “Giết người”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Vũ - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn V. Giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2023/HS-ST ngày 28/6/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 168 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 926/2023/HS-PT
Ngày: 11 - 12 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Ông Mai Xuân Thành

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Tửu

Ông Hà Huy Cầu

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Văn Vâng - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa trực tuyến xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 578/2023/TLPT-HS ngày 04 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Văn V; Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn V đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 17/2023/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1546/2023/QĐXXPT-HS ngày 24 tháng 11 năm 2023.

Phiên tòa được tiến hành tại 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm là Phòng xét xử trực tuyến của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh (Địa chỉ số H Đường E, phường C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh); Đ cầu thành phần là phòng xét xử trực tuyến tại Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

Tại điểm cầu trung tâm gồm có:

- Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Xuân Thành

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Tửu

Ông Hà Huy Cầu

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Văn Vâng - Kiểm sát viên.

*Những người tham gia tố tụng:

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn V: Luật sư Đoàn Trọng N – Văn phòng Luật sư Đoàn Trọng N thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).

Tại điểm cầu thành phần gồm có:

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn V (tên gọi khác: Nguyễn Văn V2), sinh năm 2000, tại huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; nơi đăng ký HKTT: ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): không biết chữ; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1973 và bà Lê Kiều M, sinh năm 1974; bị cáo chưa có vợ; anh chị em ruột gồm 03 người, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất là bị cáo; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bắt tạm giữ ngày 20/01/2023 đến ngày 27/01/2023 chuyển tạm giam đến nay, tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 18/01/2023 bị cáo Nguyễn Văn V đi xe khách Phương Trang từ Bến xe M về Bến xe C khoảng 20 giờ 15 phút cùng ngày. Sau đó, bị cáo thuê xe mô tô khách của ông Đào Văn Ú, loại xe Jupiter Fi, biển kiểm soát 65B2-656.43 đi từ Bến xe C về thị xã G, tỉnh Bạc Liêu với giá 800.000 đồng, khi đến thị xã G bị cáo thỏa thuận với ông Ú chở bị cáo về huyện Đ với giá thêm 400.000 đồng nữa, tổng số tiền thuê xe bị cáo trả cho ông Ú là 1.200.000 đồng, khi đi đến đoạn đường gần nhà bà Nguyễn Thị T3 là Cô của bị cáo ở ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu lẽ ra bị cáo kêu ông Ú chở bị cáo về nhà bà T3, nhưng với ý định muốn giết ông Ú để lấy tài sản, nên bị cáo kêu ông Ú chở bị cáo ra đường B thuộc địa phận ấp B, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu, khi đến đoạn vắng nhà dân và ít người qua lại, bị cáo dùng dao cán bằng nhựa màu đen đã chuẩn bị sẵn đâm ông Ú nhiều nhát từ phía sau gây ra các vết thương như: vùng lưng trái cạnh cột sống có 02 vết thương, dưới hố nách phải có 01 vết thương thấu vào trong lòng ngực gây thủng, xẹp thùy trên hai phổi, 01 vết thương vùng bẹn bên trái, 02 vết thương ở vùng bả vai phải cạnh cột sống (vết thứ nhất bên trong vết thương có dính 01 lưỡi dao đã bị gãy cán kích thước 10 x 2,2cm), 01 vết thương vùng ngực trái và 02 vết thương ở 1/3 mặt ngoài tay trái; sau khi gãy dao bị cáo tiếp tục dùng cây dao thứ hai (loại dao cắt giấy đã chuẩn bị sẵn từ trước), cắt nhiều nhát vùng cổ ông Ú làm đứt ½ trước sụn thanh quản cho đến khi anh Ú chết ngay tại chỗ. Sau đó, bị cáo lục soát trong túi quần của ông Ú lấy số tiền 1.230.000đ, 02 điện thoại di động (01 cảm ứng hiệu Sam sung, 01 bàn phím) và điều khiển xe mô tô của ông Ú chạy về hướng Cái Cùng tẩu thoát.

Trên đường bỏ trốn, bị cáo ném bỏ một số giấy tờ cá nhân (trong cóp xe) không có giá trị cùng với hung khí gây án là cây dao (loại dao rọc giấy) ở đám cỏ gần Miếu T5 thuộc địa phận ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo điều khiển xe cướp được đến Trại nuôi tôm của ông Út L (nơi bị cáo làm thuê trước đó) thay đổi quần, áo khác, bỏ lại bộ quần, áo mặc khi gây án tại ao nước (cập với đường nước ra vào ao nuôi tôm), rồi điều khiển xe đến Miếu ông Thổ địa gần chợ K thuộc địa phận ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu tháo sim điện thoại của bị cáo và sim trong điện thoại cảm ứng của ông Ú bẻ cong ném bỏ nhằm tránh bị Công an phát hiện và ngủ tại đây.

Đến sáng hôm sau, bị cáo điều khiển xe cướp được đến tiệm sửa xe của ông Tạ Hữu T4, tại ấp V, xã V, huyện H yêu cầu thay đổi bộ áo xe, pô xe và tháo bỏ biển số, bị cáo gửi lại bộ áo xe cho T4 giữ, riêng biển số xe trên đường đi bị cáo đã ném bỏ xuống sông (không xác định địa điểm), rồi điều khiển xe về nhà của bà Nguyễn Thị T3, tại ấp B, xã Đ, huyện Đ ngủ và ở lại tại đây, đến 20 giờ ngày 20/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với bị cáo và thu giữ đồ vật, tài sản có liên quan gồm: 01 điện thoại di động cảm ứng hiệu S màu xanh, 01 xe môtô không có biển số bên trong cốp xe có số tiền 554.000đ, 01 bản tên Đào Văn Ú (là đồ vật, tài sản của ông Ú) và các đồ vật khác có liên quan đến vụ án.

- Kết quả khám nghiệm tử thi Đào Văn Ú ngày 19/01/2023, ghi nhận:

+ Tóc dính nhiều bụi đất và chất dịch màu nâu đỏ, vùng trán trái có nhiều vết trầy xước rách da bầm tụ máu trên diện 6,5cm x 04cm, trong đó có 02 vết rách da kích thước lần lượt 01cm x 0,1cm và 0,8cm x 0,2cm;

+ Cổ ngang vùng thanh quản có vết thương dài 13cm, đầu bên phải nham nhở có 02 đuôi hướng xuống dưới, đầu bên trái có 03 đuôi hướng ra ngoài, bờ mép vết thương sắc nhọn, vết thương sâu đến lớp cơ làm đức ½ đường kính thanh quản;

+ Vùng ngực trái có vết thương hở miệng kích thước 2,5cm x 1,5cm đầu trên - ngoài tù, đầu dưới - trong nhọn, cách mõm cùng vai trái 13,5cm đầu trong xương đòn trái 6,5cm gai chậu trước trên trái 38cm;

+ Vùng ngực, bụng có nhiều vết bầm tím đỏ da, cách dưới hố nách phải 04cm có vết thương kích thước 04cm x 02cm thấu vào khoang ngực phải;

+ Vùng bả vai phải cạnh cột sống có 02 vết thương: Vết thứ nhất có 01 lưỡi dao (đã gãy cán) bên trong vết thương kích thước 2,5cm x 0,8cm, lưỡi dao kích thước 10cm x 2,2cm. Vết thương thứ hai nằm cách dưới vết thương thứ nhất 1,2cm, kích thước 02cm x 0,8cm;

+ Vùng lưng trái cạnh cột sống có 02 vết thương: Vết thứ nhất có kích thước 2,8cm x 1,6cm cách xuống dưới 1,2cm có vết thương thứ hai kích thước 2,2cm x 1,8cm;

+ Mặt ngoài 1/3 tay trái có 02 vết thương: Vết thứ nhất kích thước 03cm x 2,8cm, thấu ra mặt trước cánh tay, đường hằn vết thương dài 8,2cm. Vết thứ hai cách dưới sau vết thứ nhất 3,5cm kích thước 2cm x 1,5cm. Mặt lòng đốt xa ngón 2, 3, 4 có vết rách da bờ mép sắc nhọn;

+ Vùng bẹn chân trái 01 có vết thương kích thước 4,4cm x 02cm.

Mổ tử thi: Dưới da cơ ngay vết thương vùng cổ bầm tụ máu, đứt ½ trước phần sụn thanh quản, trong lòng khí quản có dịch bọt màu nâu đỏ; dưới da cơ vùng ngực trái bầm tụ máu trên diện 10cm x 10cm, thủng khoang liên sườn; thùy trên phổi trái có 01 vết thủng, phổi xẹp; thùy trên phổi phải xẹp, có 02 lỗ thủng, bầm tụ máu; khoang lồng ngực hai bên có nhiều dịch đỏ thẩm; tim sung huyết, trong buồng tim có máu loãng.

Qua khám nghiệm tử thi thu giữ: 01 lưỡi dao đã gãy cán, kích thước 10cm x 2,2cm; mẫu máu; mẫu các đầu móng tay; chỉ bản; quần áo nạn nhân mặc và 10 tờ vé số đài An Giang ngày 19/01/2023.

- Theo Bản kết luận giám định Pháp y về tử thi số: 06/PY-2023, ngày 13/02/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B, đối với Đào Văn Ú:

- Dấu hiệu chính qua giám định:

+ Trên cơ thể có nhiều vết thương há miệng bờ mép sắc gọn ở vùng cổ, ngực, lưng, bẹn và tay trái;

+ Vết thương vùng cổ đứt ½ trước sụn thanh quản, trong lòng khí quản có dịch màu nâu đỏ;

+ Vết thương vùng ngực, vùng nách thấu vào trong lòng ngực gây thủng, xẹp thùy trên hai phổi. Khoang lồng ngực hai bên có nhiều dịch màu đỏ thẫm.

Nguyên nhân chết: Nạn nhân chết do đa chấn thương gây suy tuần hoàn, suy hô hấp cấp.

- Tại Bản kết luận giám định số: 1165/KL-KTHS, ngày 13/3/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, xác định:

+ Trên các mẫu vật gửi giám định gồm các chất màu nâu đỏ thu tại các vị trí số (4), (6), (15); 01 cán dao màu đen tại vị trí số (8); 01 đôi dép thu tại vị trí số (5) và (10); 01 khẩu trang màu trắng tại vị trí (7); 01 áo khoác dài tay và trên mẫu móng tay ghi thu của tử thi Đào Văn Ú đều phân tích được 01 kiểu gen nam, trùng với kiểu gen của tử thi Đào Văn Ú.

+ Không phát hiện thấy kiểu gen (ADN) trên các mẫu vật gửi giám định gồm: Các dấu vết thu tại vị trí (2), (9); 01 khẩu trang màu trắng tại vị trí (6) và trên 01 con dao rọc giấy gửi giám định.

- Tại kết luận định giá tài sản số: 07/KL-HĐĐGTS, ngày 19/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự tỉnh Bạc Liêu, kết luận:

Tổng giá trị các tài sản nêu trên là 17.139.517 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2023/HS-ST ngày 28/6/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu quyết định:

Căn cứ Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V, (tên gọi khác: Nguyễn Văn V2) phạm các tội “Giết người” và “Cướp tài sản”.

2. Tuyên phạt:

2.1. Đối với tội “Giết người”.

- Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 40 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V mức án tử hình.

2.2. Đối với tội “Cướp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 168; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 05 (Năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 20/01/2023.

2.3. Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải chấp hành là tử hình.

3. Áp dụng dụng khoản 4 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Văn V để đảm bảo thi hành án.

Bản án còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại theo quy định của pháp luật.

Trong thời hạn luật định bị cáo Nguyễn Văn V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt đối với tội “Giết người”.

Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo kháng cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến và cho rằng: Bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn V về tội “Giết người” và “Cướp tài sản” là có căn cứ đúng pháp luật. Về áp dụng pháp luật và hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn V đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời khai nhận của bị cáo, và kết quả tranh luận tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét đánh giá khách quan toàn diện và đầy đủ chứng cứ. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xuất phát từ động cơ giết người để cướp tài sản, nên trong quá trình thuê xe bị hại chở về huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu, khi về gần đến nhà Cô của bị cáo thì bị cáo Nguyễn Văn V đã chủ động điều hướng yêu cầu ông Ú chở bị cáo đến đoạn đường vắng thuộc khu vực đê T, ấp B, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu, lúc này khoảng 23 giờ 40 phút, bị cáo dùng dao được chuẩn bị sẵn đâm ông Ú nhiều nhát vào vùng ngực, vùng lưng, bẹn, vùng nách thấu vào trong lòng ngực gây thủng, xẹp thùy trên hai phổi và tay trái, trong đó có vết thương ở vùng bả vai phải cạnh cột sống dính 01 lưỡi dao (đã gãy cán); nhưng V chưa dừng lại, với ý định giết cho bằng được bị hại, V tiếp tục dùng dao (loại dao rọc giấy) cắt vào vùng cổ nhiều nhát làm đứt ½ trước sụn thanh quản dẫn đến bị hại chết ngay tại chỗ. Sau đó bị cáo lục soát trong túi quần ông Ú lấy số tiền 1.230.000 đồng, 02 điện thoại di động và 01 xe mô tô biển kiểm soát 65B2-656.43 cùng một số đồ vật, giấy tờ cá nhân (trong cốp xe) của ông Ú, rồi điều khiển xe chạy thoát.

Tại Bản kết luận giám định Pháp y về tử thi số: 06/PY-2023, ngày 13/02/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B, đối với Đào Văn Ú: Trên cơ thể có nhiều vết thương há miệng bờ mép sắc gọn ở vùng cổ, ngực, lưng, bẹn và tay trái; vết thương vùng cổ đứt ½ trước sụn thanh quản, trong lòng khí quản có dịch màu nâu đỏ; vết thương vùng ngực, vùng nách thấu vào trong lòng ngực gây thủng, xẹp thùy trên hai phổi. Khoang lồng ngực hai bên có nhiều dịch màu đỏ thẫm. Nguyên nhân chết: Do đa chấn thương gây suy tuần hoàn, suy hô hấp cấp.

Tổng giá trị tài sản bị cáo cướp được là 18.369.517 đồng.

Với hành vi và hậu quả nêu trên bị cáo Nguyễn Văn V bị Toà án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Giết người” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 123 và “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.

Xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng và tài sản của bị hại là khách thể đặc biệt được pháp luật hình sự ưu tiên bảo vệ, bởi lẽ mạng sống của con người là bất khả xâm phạm, không ai có quyền tước đoạt một cách trái pháp luật, nhưng với ý thức xem thường pháp luật, xem thường tính mạng của người khác, bị cáo đã cố ý tước đi quyền được sống của bị hại một cách tàn nhẫn, rồi chiếm đoạt tài sản của bị hại, đã gây ra những đau thương, mất mát cho gia đình bị hại mà không gì bù đắp được, ngoài ra còn gây tâm lý hoang mang, bất bình, phẫn nộ trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh trật tự xã hội ở địa phương. Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất mức độ hành vi phạm tội và hậu quả do bị cáo gây ra, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và ra quyết định xử phạt bị cáo mức án cao nhất “tử hình” về tội “Giết người” là có cơ sở, đúng pháp luật.

Bị cáo kháng cáo nhưng không có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào mới để thay đổi mức hình phạt của Bản án sơ thẩm; do vậy không có căn cứ chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Buộc bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn V. Giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2023/HS-ST ngày 28/6/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

Căn cứ Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V, (tên gọi khác: Nguyễn Văn V2) phạm các tội “Giết người” và “Cướp tài sản”.

2. Tuyên phạt:

2.1. Đối với tội “Giết người”.

- Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 40 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V mức án tử hình.

2.2. Đối với tội “Cướp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 168; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 05 (Năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 20/01/2023.

2.3. Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải chấp hành là tử hình.

3. Áp dụng dụng khoản 4 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Văn V để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo Nguyễn Văn V có quyền làm đơn xin Chủ tịch N1 ân giảm án tử hình trong thời hạn 07 ngày tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (ngày 11/12/2023).

4. Về án phí hình sự phúc thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ