- Tranh chấp gì? án hành chính — "Nguyễn Thị B kiện UBND huyện N, tỉnh N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhân kháng cáo của những người khởi kiên bà Nguyễn Thị B, ông Dương Văn T, ông Nguyễn L, ông Lê Văn C và bà Dương Thị M;
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 926/2022/HC-PT Ngày 28 tháng 11 năm 2022 V/v “Khiếu kiện yêu cầu buôc câp giây chưng nhân quyên sư dung đât”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Minh
Các Thẩm phán:
Ông Phan Nhựt Bình
Ông Phan Tô Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Quang Nhựt và ông Phạm Phú Cường - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hừng - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 21 và 28 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 487/2022/TLPT-HC ngày 16 tháng 8 năm 2022 “Khiếu kiện yêu cầu buôc câp giây chưng nhân quyên sư dung đât”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 08/2022/HC-ST ngày 16 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh N bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1629/2022/QĐPT-HC ngày 28 tháng 10 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Ngươi khơi kiện:
1/ Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1949
2/ Ông Dương Văn T, sinh năm 1955
3/ Ông Nguyễn L, sinh năm 1960
4/ Ông Lê Văn C, sinh năm 1953
5/ Bà Dương Thị M, sinh năm 1945
6/ Bà Đinh Thị H, sinh năm 1946
Cùng địa chỉ: Thôn K, xa N, huyên N, tỉnh N (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyên: Ông Lê Khắc H, sinh năm 1961
Địa chỉ: Số 9 H, khu phố 2, thị trấn P, huyên N, tỉnh N (có mặt).
Người bao vệ quyên va lơi ich hơp pháp: Bà Trân Thanh T – Luât sư Văn phòng Luât sư Thanh T – Đoàn Luât sư tỉnh N (có mặt).
2. Ngươi bị kiện:
1/ Ủy ban nhân dân (UBND) huyên N, tỉnh N.
2/ Chủ tịch UBND huyên N, tỉnh N.
Người đại diên theo pháp luât: Ông Nguyễn Thành P - Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyên N.
Người đại diện theo ủy quyên: Ông Nguyễn Khắc Đ – Phó Chủ tịch UBND huyên N, tỉnh N (Giấy ủy quyền số 4537/UQ-CTUBND ngày 22/9/2021) (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyên của Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện N: Ông Trân Duy D - Phó trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyên N và ông Lê Thành T - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xa N, huyên N (Giấy ủy quyền số 6310/UQ-CTUBND ngày 15/11/2022) (có mặt).
3. Ngươi có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Văn phòng đăng ký đất đai N chi nhánh huyên N.
Người đại diện theo pháp luât: Ông Phan Tấn D – Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai N chi nhánh huyên N (có đơn xin xét xử vắng mặt).
2/ UBND xa N, huyên N, tỉnh N.
Người đại diện theo ủy quyên: Ông Lê Thành T – Phó Chủ tịch UBND xa N, huyên N, tỉnh N (có mặt).
Người kháng cáo: người khởi kiên Nguyễn Thị B, Dương Văn T, Nguyễn L, Lê Văn C, Dương Thị M.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Phía Người khởi kiện - Ba Nguyên Thi B, ông Dương Văn T, ông Nguyên L, ông Lê Văn C, ba Đinh Thi H, ba Dương Thi M, ông Lê Khắc H va ba Trần Thanh T trình bay:
Các thửa đất khiếu kiên thuộc tờ bản đồ địa chính số 31, tọa lạc tại xa N, huyên N; đất có nguồn gốc do các hộ dân tạo lâp và sử dụng trước năm 1975. Đến năm 1979, các hộ dân gia nhâp xa viên Hợp tác xa (HTX) K và giao toàn bộ diên tích đất đa tạo lâp cho HTX để làm ăn tâp thể. Sau đó thì HTX giao khoán lại cho các hộ gia đình theo bình quân nhân khẩu tại địa phương. Phân đất khiếu kiên là phân thường xuyên bị ngâp úng, sản xuất không có hiêu quả nên HTX không thu và cũng không giao khoán cho xa viên nào khác. Các hộ gia đình vẫn tiếp tục quản lý sử dụng. Năm 1989, các hộ đa đổ đất ở vùng ngâp nước để nâng cao đất và rào dâu để sản xuất nông nghiêp. Quá trình sử dụng diên tích đất trên từ năm 1979 đến năm 2004 không ai tranh chấp.
Đâu năm 2004, các hộ dân khác có đất trong khu vực đất cây Dừa (đất vườn im) được UBND xa N thông báo là Nhà nước thu hồi để thực hiên dự án khu dân cư nông thôn K theo Quyết định số 464/QĐ-UB ngày 3/9/2003 về viêc phê duyêt quy hoạch chi tiết phân lô dân cư xa N, huyên N. Sau đó các hộ nhân được quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh N về viêc thu hồi đất và sẽ được hỗ trợ, bồi thường theo quy định của pháp luât.
Các hộ dân có đất bị thu hồi được UBND xa N mời họp tại đình làng K, do ông Nguyễn Thanh Cân – Chủ tịch UBND xa chủ trì. Tại cuộc họp này, các hộ được thông báo giá đất được bồi thường khi thu hồi là 18.000đ/m2. Nhưng khi Nhà nước phân lô bán lại cho dân thì giá bán là 180.000đ/m2. Thấy giá đất được bồi thường là quá thấp so với giá đất Nhà nước bán ra sau khi thu hồi. Vì vây, các hộ dân không đồng ý giao đất và đa làm đơn khiếu nại đến UBND hai cấp xa và huyên, nhưng các cơ quan này không giải quyết khiếu nại. Thấy dự án kéo dài không thực hiên, cũng không thấy Nhà nước tổ chức bồi thường hỗ trợ gì, các hộ dân tiếp tục cải tạo sử dụng đất thì ngay lâp tức bị chính quyền xa ngăn cản, lâp biên bản vi phạm và xử lý hành chính. Do đó, đất đa bỏ trống từ năm 2004 đến nay.
Năm 2007, các hộ dân được biết dự án khu dân cư nông thôn K bị bai bỏ không thực hiên nên đa làm đơn gửi UBND xa, huyên, tỉnh yêu câu được cấp giấy chứng nhân quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) nhưng cho đến nay các cơ quan này vẫn không giải quyết và cũng không trả lời đơn khiếu nại. Đến tháng 5/2016, các hộ dân được UBND xa N mời đến giao cho mỗi người một bản kết luân thanh tra (bản photo) số 1356/KL-UBND ngày 20/5/2016 do ông Võ Thể - Phó Chủ tịch UBND huyên N ký. Nội dung bản kết luân thanh tra nêu trên cho rằng các hộ dân đa lấn chiếm đất công, sau đó bỏ hoang không canh tác. Hiên nay, các hộ dân không có giấy tờ quy định tại Điều 100 Luât đất đai năm 2013 và không có biên lai nộp thuế đất nông nghiêp để xác định viêc sử dụng ổn định theo Điều 21 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/4/2014 của Chính phủ nên đề nghị không công nhân quyền sử dụng đất cho các hộ. Khoảng 02 tháng sau khi có Kết luân thanh tra trên, các hộ dân đa nhân được quyết định của UBND tỉnh N về viêc hủy quyết định thu hồi đất; lý do hủy là dự án đa quy hoạch 13 năm mà không thực hiên; quyết định này cũng đa giao cho UBND huyên N hướng dẫn các hộ dân sử dụng đất theo quy định của pháp luât hiên hành.
Căn cứ vào các quy định của pháp luât về đất đai hiên hành: Khoản 2 Điều 49, khoản 2 Điều 101 Luât đất đai năm 2013 (khoản 4 Điều 50 Luât đất đai năm 2003); điểm a khoản 5 Điều 20, điểm 1 khoản 2 Điều 21 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luât đất đai.
Ngày 23/8/2016, các hộ dân đa làm đơn khiếu nại Kết luân thanh tra số 1365/KL-UBND ngày 20/5/2016 của UBND huyên N và yêu câu UBND huyên N cấp GCNQSDĐ. Tuy nhiên, UBND huyên N đa ra Thông báo không thụ lý giải quyết đơn khiếu nại vì cho rằng kết luân Thanh tra 1365/KL-UBND là quyết định hành chính, hành vi hành chính trong nội bộ cơ quan Nhà nước... Nên khiếu nại không thuộc trường hợp phải thụ lý giải quyết theo quy định tại Điều 11 Luât khiếu nại năm 2011. Về viêc yêu câu cấp GCNQSDĐ, UBND huyên N đề nghị các hộ dân liên hê UBND xa N để yêu câu giải quyết.
Không đồng ý với Thông báo số 275/TB-UBND của Chủ tịch UBND huyên N, các hộ dân làm đơn khiếu nại gửi UBND tỉnh N. Ngày 01/12/2016, UBND tỉnh N có Văn bản số 84/UBND-TCD xử lý đơn khiếu nại của 11 hộ dân thôn K, nội dung: UBND tỉnh giao cho Thanh tra tỉnh chủ trì, phối hợp cùng Sở tài nguyên và môi trường tỉnh và UBND huyên N rà soát hồ vụ viêc, căn cứ quy định pháp luât, đề xuất UBND tỉnh giải quyết trước ngày 20/12/2016.
Ngày 03/1/2017, căn cứ Báo cáo số 162/BC-TTT ngày 19/12/2016 của Thanh tra tỉnh, UBND tỉnh N đa có Văn bản số 05/UBND-TCD về viêc xử đơn khiếu nại của 11 hộ dân thôn K, nội dung văn bản này Chủ tịch UBND tỉnh N có kiến: Chấp thuân hướng xử lý vụ viêc theo đề nghị của Thanh tra tỉnh tại Báo cáo số 162/BC-TTT, giao cho UBND huyên N xem xét giải quyết viêc 11 hộ thôn K, xa N, huyên N yêu câu công nhân quyền sử dụng đất đúng trình tự, thủ tục quy định của Luât đất đai hiên hành; báo cáo kết quả cho UBND tỉnh N ngày 25/2/2017.
Đến ngày 23/3/2017, UBND huyên N vẫn không giải quyết khiếu nại yêu câu cấp GCNQSDĐ cho các hộ dân theo định của pháp luât mà lại chuyển đơn của các hộ dân cho UBND xa N để giải quyết. Sau đó, các hộ dân nộp hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ tại UBND xa N nhưng đến ngày 10/5/2017, UBND xa trả lời là không đủ điều kiên cấp GCNQSDĐ. Các hộ dân đa làm đây đủ hồ sơ đăng ký cấp GCNQSDĐ và nộp nhưng Văn phòng đăng ký đất đai N – chi nhánh N có Văn bản số 1143/VPĐKĐĐ-CNNH tạm thời trả lại hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ của các hộ dân.
Không đồng ý viêc trả hồ sơ nói trên, các hộ dân tiếp tục khiếu nại đến UBND huyên N nhưng UBND huyên N không giải quyết khiếu nại theo thẩm quyền mà lại tiếp tục chuyển đơn đến Văn phòng đăng ký đất đai N – chi nhánh N nhưng đến nay vẫn không giải quyết. Do đó, các hộ dân đa làm đơn khởi kiên ra Tòa án.
Những người khởi kiên: Bà Nguyễn Thị B, ông Dương Văn T, ông Nguyễn L, ông Lê Văn C, bà Dương Thị M và bà Đinh Thị H rút lại yêu cầu khởi kiện: Buôc Chủ tịch UBND huyện N, tỉnh N giai quyết khiếu nại vê việc câp GCNQSDĐ cho hô những người khởi kiện.
Tại Bản án số 08/2022/HC-ST ngày 16 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh N đã quyết định:
Căn cư vao:
- Khoản 1 Điều 30, khoản 3, khoản 4 Điều 32, điểm b khoản 1 Điều 143, Điều 164, khoản 2 Điều 165, điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 194, Điều 204, Điều 206, Điều 211, Điều 213, Điều 358, Điều 359 Luât Tố tụng hành chính năm 2015;
- Khoản 9 Điều 3, khoản 3 Điều 49, khoản 2 Điều 51, Điều 99, Điều 100, Điều 101 Luât đất đai năm 2013; Điều 21, khoản 3 Điều 23, Điều 27, Điều 28 Luât đất đai năm 1993;
- Điều 70 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luât đất đai;
-Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lê phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Bác yêu câu khởi kiên của bà Nguyễn Thị B, ông Dương Văn T, ông Nguyễn L, ông Lê Văn C và bà Dương Thị M về viêc: Buôc Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh N câp giây chưng nhân quyên sư dung đât cho hô những người khởi kiện.
2. Đình chỉ yêu câu khởi kiên của bà Nguyễn Thị B, ông Dương Văn T, ông Nguyễn L, ông Lê Văn C, bà Dương Thị M và bà Đinh Thị H về viêc: Buôc Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh N giai quyết khiếu nại vê việc câp giây chưng nhân quyên sư dung đât cho hô những người khởi kiện.
3. Đình chỉ yêu câu khởi kiên của bà Đinh Thị H về viêc: Buôc Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh N giai quyết khiếu nại vê việc câp giây chưng nhân quyên sư dung đât cho hô ba Đinh Thị H.
4. Không hủy:
- Quyết định số 1722/QĐ ngày 29/3/2004 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh N vê việc thu hồi đât do hô ông Nguyễn R (chồng ba Nguyễn Thị B) đang sư dung tại xã N giao cho Ủy ban nhân dân huyện N để lam khu dân cư thôn K, xã N;
- Quyết định số 1712/QĐ ngày 29/3/2004 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh N vê việc thu hồi đât do hô ông Dương T (Dương Văn T) đang sư dung tại xã N giao cho Ủy ban nhân dân huyện N để lam khu dân cư thôn K, xã N”;
- Quyết định số 1719/QĐ ngày 29/3/2004 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh N vê việc thu hồi đât do hô ông Nguyễn L đang sư dung tại xã N giao cho Ủy ban nhân dân huyện N để lam khu dân cư thôn K, xã N;
- Quyết định số 1720/QĐ ngày 29/3/2004 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh N vê việc thu hồi đât do hô ông Lê C (Lê Văn C) đang sư dung tại xã N giao cho Ủy ban nhân dân huyện N để lam khu dân cư thôn K, xã N”;
- Quyết định số 1716/QĐ ngày 29/3/2004 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh N vê việc thu hồi đât do hô ba Dương Thị M (hô ông Nguyễn Di G) đang sư dung tại xã N giao cho Ủy ban nhân dân huyện N để lam khu dân cư thôn K, xã N;
- Quyết định số 264/QĐ-UBND ngày 15/7/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh N vê việc hủy bỏ Quyết định số 1722/QĐ ngay 29/3/2004 vê việc thu hồi đât đối với hô ông Nguyễn R (chồng ba Nguyễn Thị B);
- Quyết định số 254/QĐ-UBND ngày 15/7/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh N vê việc hủy bỏ Quyết định số 1712/QĐ ngay 29/3/2004 vê việc thu hồi đât đối với hô ông Dương Văn T;
- Quyết định số 261/QĐ-UBND ngày 15/7/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh N vê việc hủy bỏ Quyết định số 1719/QĐ ngay 29/3/2004 vê việc thu hồi đât đối với hô ông Nguyễn L;
- Quyết định số 262/QĐ-UBND ngày 15/7/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh N vê việc hủy bỏ Quyết định số 1720/QĐ ngay 29/3/2004 vê việc thu hồi đât đối với hô ông Lê Văn C;
- Quyết định số 258/QĐ-UBND ngày 15/7/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh N vê việc hủy bỏ Quyết định số 1716/QĐ ngay 29/3/2004 vê việc thu hồi đât đối với hô ông Nguyễn Di G (chồng ba Dương Thị M).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 29/6/2022, người khởi kiên Nguyễn Thị B, Dương Văn T, Nguyễn L, Lê Văn C, Dương Thị M có đơn kháng cáo toàn bộ bản án hành chính sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Ông Lê Khắc H, đại diên theo ủy quyền của những người khởi kiên (bao gồm bà Nguyễn Thị B, ông Dương Văn T, ông Nguyễn L, ông Lê Văn C và bà Dương Thị M) cũng người bảo vê quyền và lợi ích hợp pháp của những người khởi kiên là Luât sư Trân Thanh Thủy, vẫn giữ yêu câu kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử sửa một phân bản án hành chính sơ thẩm theo hướng chấp nhân yêu câu khởi kiên của những người khởi kiên nêu trên, về viêc buộc Ủy ban nhân dân huyên N, tỉnh N cấp giấy chứng nhân quyền sử dụng đất cho hộ những người khởi kiên, với các lý do: Đoàn thanh tra có xác định những người tham gia hợp tác xa, các hộ dân tự khai thác sử dụng. Ủy ban không thực hiên đo đạc để bồi thường cho dân. Diên tích bị thu hồi 11.000m2, các hộ dân này đa sử dụng.
Người đại diên theo ủy quyền của người bị kiên ông Nguyễn Khắc Đông có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người đại diên theo ủy quyền của người bị kiên ông Trân Duy D đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhân kháng cáo của những người khởi kiên, giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm.
Ông Lê Thành T thống nhất với lời trình bày của ông Trân Duy D.
Người đại diên theo pháp luât của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh N - Chi nhánh N có đơn xin xét xử vắng mặt
Quan điểm của đại diên Viên kiểm sát tham gia phiên tòa:
Vê tố tung, Hội đồng xét xử phúc thẩm đa thực hiên đúng các quy định của Luât tố tụng hành chính về phiên tòa phúc thẩm. Những người tham gia tố tụng đa thực hiên đúng các quy định của Luât tố tụng hành chính.
Vê nôi dung, qua xem xét các tài liêu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định viêc người bị kiên không cấp giấy chứng nhân quyền sử dụng đất cho những người khởi kiên là đúng quy định pháp luât. Những người khởi kiên kháng cáo nhưng không cung cấp tài liêu chứng cứ gì để chứng minh cho yêu câu của mình. Do đó, đại diên Viên kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 241 Luât tố tụng hành chính bác kháng cáo của những người khởi kiên, giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm 08/2022/HC-ST ngày 16/6/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liêu, chứng cứ đa được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa, có đủ cơ sở để kết luân: Toàn bộ diễn biến vụ án như phân tóm tắt nội dung đa được viên dẫn ở trên. Xét kháng cáo của những người khởi kiên; trên cơ sở xem xét đây đủ, toàn diên các tài liêu, chứng cứ, ý kiến của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên như sau:
Về tố tụng:
Tại phiên toa phúc thẩm, người đại diên theo ủy quyền của người bị kiên có đơn xin xét xử vắng mặt và cử người bảo vê quyền, lợi ích hợp pháp tham gia phiên tòa. Căn cứ Khoản 4 Điều 225 Luât tố tụng hành chính 2015, Tòa án tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
Vê đối tương khởi kiện: Những người khởi kiên bao gồm bà Nguyễn Thị B, ông Dương Văn T, ông Nguyễn L, ông Lê Văn C và bà Dương Thị M khởi kiên yêu câu buộc Ủy ban nhân dân huyên N, tỉnh N cấp giấy chứng nhân quyền sử dụng đất cho hộ những người khởi kiên, là hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, thuộc đối tượng khởi kiên của vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Luât tố tụng hành chính 2015.
Vê thời hiệu khởi kiện:
Sau khi các hộ dân nộp hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ tại UBND xa N thì đến ngày 10/5/2017, UBND xa N trả lời không đủ điều kiên cấp GCNQSDĐ và Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh N - Chi nhánh huyên N có Văn bản số 1143/VPĐKĐĐ-CNNH tạm thời trả lại hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ cho các hộ dân. Không đồng ý viêc trả hồ sơ nói trên, các hộ dân tiếp tục khiếu nại đến UBND huyên N.
Ngày 14/8/2019, Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh N có Công văn số 1505/VPĐKĐĐ-CNNH giải quyết đơn khiếu nại của 09 hộ dân xa N, với nội dung: “Quyết định hanh chinh, hanh vi hanh chinh bị khiếu nại không liên quan trực tiếp đến quyên, lơi ich hơp pháp của người khiếu nại”. Nguồn gốc sử dụng đất của 09 hộ dân kê khai cấp GCNQSDĐ được UBND xa N xác nhân là đất công do xa quản lý theo Kết luân số 1365/KL-UBND ngày 20/5/2016 của Chủ tịch UBND huyên N nên không đủ điều kiên để thụ lý giải quyết.
Do đó, ngày 31/5/2017, những người khởi kiên bao gồm bà Nguyễn Thị B, ông Dương Văn T, ông Nguyễn L, ông Lê Văn C và bà Dương Thị M khởi kiên yêu câu buộc Ủy ban nhân dân huyên N, tỉnh N cấp giấy chứng nhân quyền sử dụng đất, là còn trong thời hiêu khởi kiên theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luât tố tụng hành chính 2015.
Vê thẩm quyên giai quyết: Tòa án nhân dân tỉnh N thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 4 Điều 32 Luât Tố tụng hành chính 2015.
Vê thời hạn kháng cáo: Ngày 29/6/2022, những người khởi kiên có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa một phân Bản án hành chính sơ thẩm số 08/2022/HC-ST ngày 16/6/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh N theo hướng chấp nhân toàn bộ yêu câu khởi kiên của những người khởi kiên, là còn trong thời hạn theo quy định tại Khoản 1 Điều 206 Luât tố tụng hành chính năm 2015.
Về nội dung:
Về nguồn gốc va quá trình sử dụng đất.
Những người khởi kiên cho rằng các thửa đất khiếu kiên thuộc tờ bản đồ địa chính số 31, tọa lạc tại xa N, huyên N, có nguồn gốc do các hộ dân tạo lâp và sử dụng trước năm 1975. Đến năm 1979, các hộ dân gia nhâp xa viên Hợp tác xa (HTX) K và giao toàn bộ diên tích đất đa tạo lâp cho HTX. Sau đó, HTX giao khoán lại cho các hộ gia đình theo bình quân nhân khẩu tại địa phương. Phân đất khiếu kiên thường xuyên bị ngâp úng, sản xuất không có hiêu quả nên HTX không thu và cũng không giao khoán cho xa viên nào khác. Các hộ gia đình vẫn tiếp tục quản lý sử dụng. Năm 1989, các hộ đa đổ đất ở vùng ngâp nước để nâng cao đất và rào dâu để sản xuất nông nghiêp (trồng cây nha đam). Quá trình sử dụng diên tích đất trên từ năm 1979 đến năm 2004 không ai tranh chấp.
Ngày 29/3/2004, Chủ tịch UBND tỉnh N ban hành Quyết định số 1722/QĐ vê việc thu hồi đât do hô ông Nguyễn R (chồng ba Nguyễn Thị B) đang sư dung tại xã N giao cho UBND huyện N để lam khu dân cư thôn K, xã N; thửa đất thu hồi có diên tích 1.175m2, đất có hiên trạng sử dụng là đất nông nghiêp trồng cây màu do hộ ông Nguyễn R sử dụng tại xa N (thuộc thửa số 10, tờ bản đồ trích đo).
Ngày 29/3/2004, Chủ tịch UBND tỉnh N ban hành Quyết định số 1712/QĐ vê việc thu hồi đât do hô ông Dương T (Dương Văn T) đang sư dung tại xã N giao cho UBND huyện N để lam khu dân cư thôn K, xã N”; thửa đất thu hồi có diên tích 339m2, đất có hiên trạng sử dụng là đất nông nghiêp trồng cây màu do hộ ông Dương T (Dương Văn T) sử dụng tại xa N (thuộc thửa số 3, tờ bản đồ trích đo).
Ngày 29/3/2004, Chủ tịch UBND tỉnh N ban hành Quyết định số 1719/QĐ vê việc thu hồi đât do hô ông Nguyễn L đang sư dung tại xã N giao cho UBND huyện N để lam khu dân cư thôn K, xã N; thửa đất thu hồi có diên tích 1.184m2, đất có hiên trạng sử dụng là đất nông nghiêp trồng cây màu do hộ ông Nguyễn L sử dụng tại xa N (thuộc thửa số 8a, tờ bản đồ trích đo).
Ngày 29/3/2004, Chủ tịch UBND tỉnh N ban hành Quyết định số 1720/QĐ vê việc thu hồi đât do hô ông Lê C (Lê Văn C) đang sư dung tại xã N giao cho UBND huyện N để lam khu dân cư thôn K, xã N”; thửa đất thu hồi có diên tích 2.216m2, đất có hiên trạng sử dụng là đất nông nghiêp trồng cây màu do hộ ông Lê C (Lê Văn C) sử dụng tại xa N (thuộc thửa số 8, tờ bản đồ trích đo).
Ngày 29/3/2004, Chủ tịch UBND tỉnh N ban hành Quyết định số 1716/QĐ vê việc thu hồi đât do hô ba Dương Thị M (hô ông Nguyễn Di G) đang sư dung tại xã N giao cho UBND huyện N để lam khu dân cư thôn K, xã N; thửa đất thu hồi có diên tích 1.094m2, đất có hiên trạng sử dụng là đất nông nghiêp trồng cây màu do hộ bà Dương Thị M sử dụng tại xa N (thuộc thửa số 6, tờ bản đồ trích đo).
Tại các Quyết định thu hồi đất nêu trên của Chủ tịch UBND tỉnh N đa thể hiên rõ hộ bà Nguyễn Thị B, ông Dương Văn T, ông Nguyễn L, ông Lê Văn C, bà Dương Thị M là người đang sử dụng đất (tại thời điểm thu hồi năm 2004) tại mục 2 Điều 1 của quyết định có nêu: “Nôi dung tại muc 1 nói trên đươc xác định theo hiện trạng sử dụng đất tại thơi điểm lập hồ sơ thu hồi”; phù hợp với Bản đồ địa chính năm 2005, các biên bản trích đo khu đất, sổ mục kê đất năm 2005. Ngày 15/7/2016, Chủ tịch UBND tỉnh N đa ban hành các quyết định hủy bỏ các quyết định về viêc thu hồi đất nêu trên với lý do: Dự án được quy hoạch từ năm 2003 đến năm 2016 đa 13 năm nhưng không triển khai thực hiên được quy định tại khoản 3 Điều 49 Luât đất đai năm 2013 (Dự án trên 03 năm không triển khai thực hiên). Viêc ban hành các quyết định hủy bỏ viêc thu hồi đất cũng không làm mất đi giá trị pháp lý của bản đồ địa chính năm 2005 và sổ mục kê năm 2005. Cho đến nay, các tài liêu này vẫn không bị cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ, đính chính hay sửa chữa. UBND xa N cũng thừa nhân viêc đo đạc Bản đồ địa chính năm 2005 là do đơn vị đo đạc của tỉnh N thực hiên. Sau khi đo đạc, lâp bản đồ địa chính, sổ mục kê đất năm 2005 xong thì bàn giao kết quả lại cho xa và xa có ký nhân lúc bàn giao. Như vây, nếu nhân thấy viêc đo đạc Bản đồ địa chính năm 2005 là không đúng thì UBND xa N phải có trách nhiêm điều chỉnh lại cho phù hợp. Tuy nhiên, từ năm 2005 cho đến nay, UBND xa N, UBND huyên N vẫn không có bất kỳ văn bản nào phủ nhân giá trị pháp lý của bản đồ địa chính và sổ mục kê đất năm 2005 nêu trên. Do đó, đây vẫn được xem là nguồn tài liêu khách quan để xác định chủ sử dụng của các diên tích đất đang khiếu kiên.
Phía người bị kiên Ủy ban nhân dân huyên N và Ủy ban nhân dân xa N cho rằng theo Bản đồ 299 được xác lâp năm 1989 thì diên tích đất các hộ dân khiếu kiên do HTX quản lý, sử dụng; sau khi HTX giải thể là đất công chưa sử dụng do UBND xa quản lý tuy nhiên không cung cấp tài liêu về viêc chuyển giao quản lý đất từ HTX sang UBND xa N. Đến năm 2017, UBND huyên N mới triển khai cắm mốc bàn giao cho UBND xa N quản lý theo biên bản lâp ngày 25/4/2017.
Viêc Kết luân thanh tra số 1365/KL-UBND ngày 20/5/2016 của UBND huyên N thể hiên khu vực này là đất công chưa sử dụng do UBND xa quản lý, đất bị ngâp nước, bỏ trống, các hộ dân chiếm đất nhưng không sử dụng, không có quá trình canh tác; Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc cấp trích lục ngày 20/4/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh N; Trích lục bản đồ địa chính ngày 04/6/2021 của Văn phòng đăng ký đất đai N đều thể hiên các thửa đất đang bỏ trống, không có dấu hiêu canh tác là phù hợp vì các thửa đất này đa bị thu hồi để thực hiên dự án khu dân cư từ năm 2004 nên các hộ dân không thể tiếp tục canh tác được.
Đồng thời, theo đơn đăng ký cấp GCNQSDĐ của các hộ người khởi kiên được UBND xa N xác nhân ngày 07/6/2019, về hiên trạng: “Đất bằng chưa sư dung”. Ủy ban nhân dân huyên N và Ủy ban nhân dân xa N nếu cho rằng khu vực này đất trũng bị ngâp nước, bỏ trống không ai canh tác nhưng không lý giải viêc vì sao đất trũng đa được nâng thành “Đất bằng” như hiên trạng hiên tại. Mặt khác, Ủy ban nhân dân huyên N và Ủy ban nhân dân xa N cũng không cung cấp được bất kỳ quyết định xử phạt vi phạm hành chính nào đối với các hộ dân thời điểm trước năm 2004. Về tình trạng tranh chấp: Ủy ban nhân dân xa N cho rằng “Đất đang tranh chấp” là có sự nhâm lẫn trong viêc xác định quan hê tranh chấp. Viêc tranh chấp đất đai giữa một bên chủ thể là nhà nước được xác định là khiếu kiên hành chính, không phải là tranh chấp đất đai.
Từ những căn cứ nêu trên, có cơ sở xác định, những người khởi kiên là những người có hộ khẩu thường trú tại địa phương, trực tiếp sản xuất nông nghiêp (trồng cây nha đam), đa sử dụng đất ổn định từ trước ngày 01/7/2004 và không vi phạm pháp luât về đất đai, đồng thời là những người trực tiếp sử dụng đất tại thời điểm thu hồi đất vào năm 2004.
Về điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Điều 101 Luât đất đai 2013 quy định:
“Câp GCNQSDĐ, quyên sở H nha ở va tai san khác gắn liên với đât cho hô gia đình, cá nhân đang sư dung đât ma không có giây tờ vê quyên sư dung đât
1. Hô gia đình, cá nhân đang sư dung đât trước ngay Luât nay có hiệu lực thi hanh ma không có các giây tờ quy định tại Điêu 100 của Luât nay, có hộ khẩu thương trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy san, lam muối tại vùng có điêu kiện kinh tế - xã hôi khó khăn, vùng có điêu kiện kinh tế - xã hôi đặc biệt khó khăn, nay đươc UBND câp xã nơi có đât xác nhân la người đã sư dung đât ổn định, không có tranh châp thì đươc câp GCNQSDĐ, quyên sở H nha ở va tai san khác gắn liên với đât va không phai nôp tiên sư dung đât.
2. Hô gia đình, cá nhân đang sư dung đât không có các giây tờ quy định tại Điêu 100 của Luât nay nhưng đât đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01/7/2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay đươc UBND câp xã xác nhân la đât không có tranh châp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã đươc cơ quan nha nước có thẩm quyên phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì đươc câp GCNQSDĐ, quyên sở H nha ở va tai san khác gắn liên với đât.
Điều 70 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luât đất đai quy định:
Về trình tự, thủ tục cấp GCNQSDĐ lân đâu cho hộ gia đình, cá nhân:
“…
2. Trường hơp hô gia đình, cá nhân, công đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoai đươc sở H nha ở tại Việt Nam đê nghị đăng ký đât đai, tai san gắn liên với đât, câp GCNQSDĐ, quyên sở H nha ở va tai san khác gắn liên với đât thì UBND câp xã có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ va thực hiện các công việc như sau:
a) Trường hơp đăng ký đât đai thì xác nhân hiện trạng sư dung đât so với nôi dung kê khai đăng ký; trường hơp không có giây tờ quy định tại Điêu 100 của Luât đât đai va Điêu 18 của Nghị định nay thì xác nhận nguồn gốc và thơi điểm sử dụng đất, tình trạng tranh chấp sử dụng đất, sự phù hợp với quy hoạch.
…..
b) Trương hợp chưa có bản đồ địa chính thì trước khi thực hiện các công việc tại Điểm a khoan nay, UBND câp xã phai thông báo cho Văn phòng đăng ký đât đai thực hiện trich đo địa chinh thưa đât hoặc kiểm tra ban trich đo địa chinh thưa đât do người sư dung đât nôp (nếu có);
….
3. Văn phòng đăng ký đât đai thực hiện các công việc như sau:
a) Trường hơp hô gia đình, cá nhân, công đồng dân cư nôp hồ sơ tại Văn phòng đăng ký đât đai thì gưi hồ sơ đến UBND câp xã để lây ý kiến xác nhân va công khai kết qua theo quy định tại khoan 2 Điêu nay;
b) Trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính thửa đất ơ nơi chưa có bản đồ địa chính hoặc đã có ban đồ địa chinh nhưng hiện trạng ranh giới sư dung đât đã thay đổi hoặc kiểm tra ban trich đo địa chinh thưa đât do người sư dung đât nôp (nếu có);”
Như vây, viêc xác lâp hồ sơ cấp GCNQSDĐ lân đâu cho hộ gia đình những người khởi kiên thuộc trách nhiêm của UBND xa N được quy định tại khoản 2 Điều 70 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và chỉ trong trường hợp chưa có bản đồ địa chính thì UBND cấp xa mới phải thông báo cho Văn phòng đăng ký đất đai thực hiên trích đo địa chính thửa đất hoặc kiểm tra bản trích đo địa chính thửa đất do người sử dụng đất nộp (nếu có). Trong trường hợp này, bản đồ địa chính khu đất năm 2005 vẫn đang có giá trị pháp lý. Do đó, UBND xa N phải có trách nhiêm xác nhân hiên trạng cho các chủ sử dụng đất theo quy định của pháp luât.
Theo biên bản phiên tòa ngày 21 tháng 11 năm 2022, đại diên người bị kiên Ủy ban nhân dân huyên N xác nhân khu vực này hiên nay vẫn được quy hoạch là khu dân cư nên các hộ dân nộp đơn đăng ký cấp GCNQSDĐ là phù hợp với quy hoạch sử dụng đất tại địa phương.
Từ những căn cứ nêu trên, có cơ sở xác định, những người khởi kiên là những người có hộ khẩu thường trú tại địa phương, trực tiếp sản xuất nông nghiêp (trồng cây nha đam), đa sử dụng đất ổn định từ trước ngày 01/7/2004 và không vi phạm pháp luât về đất đai, có tên trong bản đồ địa chính, sổ mục kê, sử dụng đất phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của địa phương nên đủ điều kiên để được cấp giấy chứng nhân quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 101 Luât đất đai 2013.
Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét và có căn cứ chấp nhân kháng cáo của những người khởi kiên; Sửa một phân bản án hành chính sơ thẩm theo hướng chấp nhân yêu câu khởi kiên Bà Nguyễn Thị B, ông Dương Văn T, ông Nguyễn L, ông Lê Văn C và bà Dương Thị M về viêc buộc Ủy ban nhân dân huyên N, tỉnh N cấp giấy chứng nhân quyền sử dụng đất cho hộ những người khởi kiên.
Về án phí:
- Án phí hành chính sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị B, ông Dương Văn T, ông Nguyễn L, ông Lê Văn C và bà Dương Thị M không phải chịu do yêu câu khởi kiên được chấp nhân.
Ủy ban nhân dân huyên N, tỉnh N phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định.
- Án phí hành chính phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị B, ông Dương Văn T, ông Nguyễn L, ông Lê Văn C và bà Dương Thị M không phải chịu do yêu câu kháng cáo được chấp nhân.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 241 Luât tố tụng hành chính năm 2015;
Chấp nhân kháng cáo của những người khởi kiên bà Nguyễn Thị B, ông Dương Văn T, ông Nguyễn L, ông Lê Văn C và bà Dương Thị M;
Sửa một phân Bản án hành chính sơ thẩm số 08/2022/HC-ST ngày 16/6/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh N.
Tuyên xử:
1. Chấp nhân yêu câu khởi kiên của những người khởi kiên bà Nguyễn Thị B, ông Dương Văn T, ông Nguyễn L, ông Lê Văn C và bà Dương Thị M về viêc: “Buôc Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh N câp giây chưng nhân quyên sư dung đât cho hô những người khởi kiện”.
Buộc Ủy ban nhân dân huyên N, tỉnh N lâp trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhân quyền sử dụng đất cho hộ những người khởi kiên theo đúng quy định của pháp luât; Trong đó, thửa đất của bà Nguyễn Thị B có diên tích 966.2m2 thuộc thửa số 174; Thửa đất của ông Dương Văn T có diên tích 425.3m2 thuộc thửa số 385 (tách từ một phân thửa 143); Thửa đất của ông Nguyễn L có diên tích 1.012,8m2 thuộc thửa số 166; Thửa đất của ông Lê Văn C có diên tích 2.020m2 thuộc thửa số 169; Thửa đất của bà Dương Thị M có diên tích 843m2 thuộc thửa số 399 (tách từ một phân thửa 149) cùng tờ bản đồ địa chính số 31 xa N, huyên N, tỉnh N.
2. Về án phí và chi phí tố tụng:
- Vê án phi hanh chinh sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị B, ông Dương Văn T, ông Nguyễn L, ông Lê Văn C và bà Dương Thị M không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.
Người bị kiên Ủy ban nhân dân huyên N, tỉnh N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hành chính sơ thẩm.
- Vê chi phi tố tung:
Bà Nguyễn Thị B, ông Dương Văn T, ông Nguyễn L, ông Lê Văn C, bà Dương Thị M và bà Đinh Thị H không phải chịu. Hoàn lại cho Bà Nguyễn Thị B, ông Dương Văn T, ông Nguyễn L, ông Lê Văn C, bà Dương Thị M và bà Đinh Thị H mỗi người 2.259.980đ (Hai triệu hai trăm năm mươi chin nghìn chin trăm tám mươi đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc cấp trích lục.
Người bị kiên Ủy ban nhân dân huyên N, tỉnh N phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc cấp trích lục với số tiền 13.559.880đ (M ba triêu năm trăm năm mươi chín nghìn tám trăm tám mươi đồng).
- Vê án phi hanh chinh phúc thẩm:
Bà Nguyễn Thị B, ông Dương Văn T, ông Nguyễn L, ông Lê Văn C, bà Dương Thị M và bà Đinh Thị H không phải chịu.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đa có hiêu lực pháp luât kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiêu lực pháp luât kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSND cấp cao tại TP.HCM; - TAND tỉnh N; - VKSND tỉnh N; - Cục THADS tỉnh N; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký va đóng dâu) Nguyên Văn Minh |