- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn đơn phương"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị L.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 925/2022/HNGĐ-ST Ngày: 16/6/2022 V/v: “Tranh chấp về ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Hương.
- Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Mai Thị Tám;
2. Ông Nguyễn Đức Thanh.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không.
Trong ngày 16 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 262/2022/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2022 về việc: “Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 215/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 214/2022/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phan Thị L, sinh năm 1977 (có mặt).
Thường trú: Số 15, tổ 3, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Huy H, sinh năm 1977 (vắng mặt).
Thường trú: Số 15, tổ 3, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- 1 -
- Tại Đơn xin ly hôn ngày 08 tháng 02 năm 2022 và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phan Thị L trình bày sự việc như sau:
Bà (Phan Thị L) và ông Nguyễn Huy H tự nguyện chung sống và đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 08/5/2000. Trong quá trình chung sống, vợ chồng bà không hợp nhau, chồng bà nhiều lần đánh đập bà, thậm chí chồng bà còn có người phụ nữ khác và dọn ra ngoài sống cùng người phụ nữ đó từ năm 2020, cũng từ đó, vợ chồng bà sống ly thân cho đến nay. Vì hôn nhân bế tắc, vợ chồng không còn thương yêu nhau, không thể hàn gắn nên bà dứt khoát yêu cầu ly hôn với ông H.
Về con chung: Bà và ông H có 02 con chung tên Nguyễn Thuận T, sinh ngày 27/6/2002 (đã thành niên) và Nguyễn Nhã T, sinh ngày 01/12/2015. Hiện bà sống chung với 02 con. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung tên là Nguyễn Nhã T và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.
Tài sản chung: Bà xác định bà và ông H không có tài sản chung.
Nợ chung: Bà xác định bà và ông H không có nợ chung.
- Trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Huy H không có mặt nên không có lời khai của ông H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Đây là vụ kiện: “Tranh chấp về ly hôn” được quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn trong vụ kiện ông Nguyễn Huy H hiện cư trú tại huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án số 262/TB-TA ngày 22/02/2022; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 215/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2022 kèm giấy triệu tập và Quyết định hoãn phiên tòa số 214/2022/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2022 kèm giấy triệu tập nhưng tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Nguyễn Huy H vắng
- 2 -
mặt mà không rõ lý do nên căn cứ Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H.
Về nội dung:
Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Phan Thị L về việc yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Huy H, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ hôn nhân:
Bà Phan Thị L và ông Nguyễn Huy H tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, Giấy chứng nhận kết hôn số 61 quyển số 01 ngày 08/5/2000, nên là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật thừa nhận.
Theo lời bà L trình bày thì trong quá trình chung sống, vợ chồng bà không hợp nhau, chồng bà nhiều lần đánh đập bà, thậm chí chồng bà còn có người phụ nữ khác và dọn ra ngoài sống cùng người phụ nữ đó từ năm 2020, cũng từ đó vợ chồng bà sống ly thân cho đến nay. Vì hôn nhân bế tắc, vợ chồng không còn thương yêu nhau, không thể hàn gắn nên bà yêu cầu ly hôn với ông H.
Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ sống chung với nhau, thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, tạo dựng hạnh phúc gia đình, nhưng cuộc sống vợ chồng giữa bà L và ông H có nhiều mâu thuẫn. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, ông H đều không có mặt mà không có lý do, điều này thể hiện ông H không có thiện chí trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà L.
Từ phân tích trên, có đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa bà L và ông H không còn hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu bà L là có cơ sở.
- Về con chung:
Bà L và ông H có 02 con chung tên Nguyễn Thuận T, sinh ngày 27/6/2002 và Nguyễn Nhã T, sinh ngày 01/12/2015.
Xét thấy con chung của bà L và ông H là Nguyễn Thuận T, sinh ngày 27/6/2002, đã thành niên nên Hội đồng xét xử không xét.
Đối với trẻ Nguyễn Nhã T, sinh ngày 01/12/2015 hiện đang sống ổn định cùng bà L nên Hội đồng xét xử quyết định giao trẻ T cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp.
- 3 -
Do bà L không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bà L.
Cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông H được quyền thăm con, không ai được cản trở.
- Tài sản chung:
Bà L khai bà và ông H không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xét.
- Về nghĩa vụ dân sự chung:
Bà L khai bà và ông H không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí:
Bà L phải nộp tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/10/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271, Khoản 1 Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Khoản 2 Điều 81, Khoản 3 Điều 81, Khoản 1 Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Căn cứ Điều 6, 7, 26, 30, 31, 32 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị L.
- Về quan hệ hôn nhân:
Bà Phan Thị L được quyền ly hôn với ông Nguyễn Huy H.
- 4 -
Giấy chứng nhận kết hôn số 61 quyển số 01 ngày 08/5/2000 do Ủy ban nhân dân xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà L và ông H không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung:
Bà L và ông H có 02 con chung tên Nguyễn Thuận T, sinh ngày 27/6/2002 (đã thành niên) và Nguyễn Nhã T, sinh ngày 01/12/2015.
Giao trẻ Nguyễn Nhã T, sinh ngày 01/12/2015 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng; ghi nhận việc bà L không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông H được quyền thăm con, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung:
Bà L xác định bà L và ông H không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xét.
- Về nghĩa vụ dân sự chung:
Bà L xác định bà L và ông H không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xét.
2. Về án phí:
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm buộc bà L phải nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0043909 ngày 22/02/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi, bà L đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa (ông Nguyễn Huy H) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
- 5 -
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.
| Nơi nhận: - TAND TP. HCM; - VKSND H. Củ Chi; - Chi cục THADS H. Củ Chi; - UBND xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi, Tp.HCM; - Các đương sự; - Lưu. - 6 - | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠTHẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Thị Thanh Hƣơng |