vanban.org

Bản án 924/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T1:

Xác định: Ông Lê Vạn N, sinh năm: 1993;Địa chỉ thường trú: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa là cha của trẻ Đặng Ngọc H, sinh ngày 14/10/2020 (Số định danh cá nhân: xxxxxxxxxxxx). Bà Trần Thị T1, ông Lê Vạn N, ông Đặng Công D được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để cải chính hộ tịch cho … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Tran Thi T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T1:
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
__________________________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 924/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 20/9/2023
V/v: Tranh chấp về xác định
cha cho con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh Minh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kính

2. Ông Danh Cư

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Ngọc Diểm - Thư ký Toà án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Nhàn - Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 507/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2023, về tranh chấp “Xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 211/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 153/2023/QĐST - HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị T năm: 194;

Địa chỉ thường trú: Khu phố F T, Thị trấn K, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Địa chỉ tạm trú: Số nhà B đường Â, Phường B, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh;

(Đương sự có đơn xin vắng mặt)

Bị đơn: Ông Lê Vạn N, sinh năm: 1993;

Địa chỉ thường trú: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa;

Địa chỉ tạm trú: Số nhà B đường Â, Phường B, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh;

(Đương sự có đơn xin vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đặng Công D, sinh năm: 1991;

Địa chỉ thường trú: Xóm H, Thôn C, xã L, huyện V, tỉnh Nam Định;

(Đương sự vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 19/4/2023 cùng các tài liệu trong hồ sơ, nguyên đơn bà Trần Thị T1 trình bày:

Từ tháng 11 năm 2014 đến tháng 02 năm 2020, bà Trần Thị T1 có tìm hiểu quen biết và phát sinh quan hệ tình cảm với ông Lê Vạn N, sau đó bà T1 và ông N chia tay. Sau khi chia tay ông N, bà T1 phát hiện mang thai nhưng không cho ông N biết sự việc. Khi có thai khoảng hơn 01 tháng thì bà T1 có quen biết và phát sinh tình cảm với ông Đặng Công D. Bà T1 có cho ông D biết việc bà T1 mang thai không phải con ruột của ông D nhưng ông D vẫn đồng ý tiến tới hôn nhân với bà T1. Đến ngày 20/5/2020, bà T1 và ông D đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Ngày 14/10/2020, bà Thủy s trẻ Đặng Ngọc H, giới tính nữ và làm giấy khai sinh cho trẻ với thông tin cha là ông Đặng Công D.

Trong quá trình chung sống, đỉnh điểm là sau khi sinh con thì giữa bà Trần Thị T1 và ông Đặng Công D xảy ra nhiều mâu thuẫn gây gắt và vợ chồng đã ly hôn theo Bản án số 13/2022/HNGĐ-ST ngày 22/6/2022 của Tòa án huyện V, tỉnh Nam Định. Trẻ Đặng Ngọc H do bà T1 trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn, bà T1 đã liên hệ với ông Lê Vạn N để làm thủ tục giám định huyết thống (AND) với trẻ Đặng Ngọc H, sinh ngày 14/10/2020 thì xác định ông Lê Vạn N là cha ruột của trẻ Đặng Ngọc H. Để thực hiện thủ tục về cải chính hộ tịch cho trẻ Đặng Ngọc H, bà T1 yêu cầu Tòa án giải quyết và xác định ông Lê Vạn N, sinh năm: 1993;Địa chỉ thường trú: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa là cha ruột của trẻ Đặng Ngọc H, sinh ngày 14/10/2020 (Số định danh cá nhân: xxxxxxxxxxxx).

Tại bản tự khai ngày 06/6/2023 của ông Lê Vạn N , ông N đồng ý với lời trình bày của bà Trần Thị T1. Bà T1 yêu cầu Tòa án xác định ông Lê Vạn N là cha ruột của trẻ Đặng Ngọc H, sinh ngày 14/10/2020 (Số định danh cá nhân: xxxxxxxxxxxx), ông N thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T1 và yêu cầu Toà án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Công D vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại biên bản lấy lời khai do Tòa án nhân dân huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định cung cấp, ông D xác nhận: Khoảng cuối năm 2019 thì ông D có quen và gặp gỡ với chị Trần Thị T1, sinh năm 1994; quê quán ở xã K, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Giáp Tết 2020, chị T1 có nói với ông D là đã mang thai nhưng không phải là mang thai với ông D mà là với người đàn ông khác. Khi đó, mặc dù biết đứa bé mà chị T1 đang mang thai không phải là con đẻ của mình nhưng vì có tình cảm với chị T1 và thương đứa bé trong bụng chị T1 nên ông D vẫn quyết định tổ chức đám cưới với chị T1. Ông D và chị T1 có đăng ký kết hôn tại UBND xã (ông D không nhớ tên xã), huyện N, tỉnh Đồng Nai. Đến ngày 14-10-2020, chị Thủy sinh cháu Đặng Ngọc H tại Bệnh viện phụ sản tỉnh N. Ông D là người đi khai sinh cho cháu H và tại phần họ tên người cha ghi là Đặng Công D. Đến tháng 6/2022, giữa ông D và chị T1 phát sinh mâu thuẫn, không thể tiếp tục chung sống với nhau nên đã quyết định ly hôn. Sau khi ly hôn thì chị T1 đã đưa cháu H vào Thành phố Hồ Chí Minh để sinh sống. Ông D không có ý kiến gì về kết quả phân tích ADN giữa ông Lê Vạn N với cháu Đặng Ngọc H và xác nhận ông D không phải là cha đẻ của cháu H. Cháu H là con riêng của chị T1 với người đàn ông khác. Do đó, ông D đề nghị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết vụ án nêu trên theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay: Bà Trần Thị T1 có đơn xin xét xử vắng mặt, trong đơn bà T1 vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án xác định ông Lê Vạn N, sinh năm: 1993;Địa chỉ thường trú: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa là cha ruột của trẻ Đặng Ngọc H, sinh ngày 14/10/2020 (Số định danh cá nhân: xxxxxxxxxxxx) và không có ý kiến gì thêm.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên Tòa phát biểu ý kiến: Qúa trình giải quyết vụ án và xét xử Tòa án đã chấp hành đúng các qui định của pháp luật về tố tụng dân sự, nguyên đơn bà Trần Thị T1, bị đơn Lê Vạn N chấp hành đúng các qui định của pháp luật; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Công D chưa chấp hành đúng các qui định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 4 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 89, 91 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Thị T1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Xét nguyên đơn bà Trần Thị T1 yêu cầu Tòa án xác định ông Lê Vạn N là cha ruột của trẻ Đặng Ngọc H, sinh ngày 14/10/2020 nên đây là tranh chấp về xác định cha cho con. Do bị đơn ông Lê Vạn N có nơi cư trú tại Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Quận 8 theo quy định tại khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về tố tụng:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Công D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do tại phiên tòa. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông D.

Nguyên đơn bà Trần Thị T1, bị đơn ông Lê Vạn N có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

. Về yêu cầu của các đương sự:

Hội đồng xét xử nhận thấy tại bản tự khai của bà Trần Thị T1 và ông Lê Vạn N đều xác nhận từ tháng 11 năm 2014 đến tháng 02 năm 2020, bà Trần Thị T1 có tìm hiểu và phát sinh quan hệ tình cảm với ông Lê Vạn N dẫn đến việc bà T1 mang thai và sinh ra trẻ Đặng Ngọc H (sinh ngày 14/10/2020). Sau khi mang thai, bà T1 đã chia tay với ông N và đăng ký kết hôn với ông Đặng Công D. Trẻ H được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân của bà T1 và ông D. Trên giấy khai sinh của trẻ Đặng Ngọc H, sinh ngày 14/10/2020 ghi thông tin họ tên người cha là ông Đặng Công D, sinh ngày 16/10/1991. Bà Trần Thị T1 và ông Đặng Công D đã ly hôn theo Bản án số 13/2022/HNGĐ-ST ngày 22/6/2022 của Tòa án huyện V, tỉnh Nam Định. Nay bà Trần Thị T1 yêu cầu Tòa án xác định ông Lê Vạn N, sinh năm 1993 là cha ruột của trẻ Đặng Ngọc H, sinh ngày 14/10/2020 (Số định danh cá nhân: xxxxxxxxxxxx) để bổ túc hồ sơ cải chính hộ tịch cho trẻ H. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Công D đã xác nhận: Ông D không phải là cha đẻ của cháu H và không có ý kiến gì về kết quả phân tích ADN giữa ông Lê Vạn N với cháu Đặng Ngọc H; Ông D đề nghị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết vụ án nêu trên theo quy định của pháp luật.

Ngày 06/6/2023, Tòa án nhân dân Quận 8 ra Quyết định trưng cầu giám định yêu cầu Phân viện Khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh - Bộ C xác định quan hệ huyết thống giữa ông Lê Vạn N với trẻ Đặng Ngọc H (sinh ngày 14/10/2020). Tại Kết luận giám định số 3938/KL-KTHS của Phân viện Khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh - Bộ C ngày 27/6/2023 kết luận: “Ông Lê Vạn N và trẻ Đặng Ngọc H có quan hệ huyết thống cha - con”. Từ những căn cứ trên, xét thấy đã có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Xác định ông Lê Vạn N, sinh năm 1993 là cha của trẻ Đặng Ngọc H, sinh ngày 14/10/2020 (Số định danh cá nhân: xxxxxxxxxxxx) vì phù hợp với quy định tại các Điều 88, 89 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị T1 được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo Điều 12 và Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Khoản 4 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào Điều 88, Điều 89, Điều 91, Điều 101 và Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Điều 12 và Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T1:

Xác định: Ông Lê Vạn N, sinh năm: 1993;Địa chỉ thường trú: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa là cha của trẻ Đặng Ngọc H, sinh ngày 14/10/2020 (Số định danh cá nhân: xxxxxxxxxxxx).

Bà Trần Thị T1, ông Lê Vạn N, ông Đặng Công D được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để cải chính hộ tịch cho trẻ trẻ Đặng Ngọc H, sinh ngày 14/10/2020 (Giấy khai sinh số 201, do Ủy ban nhân dân xã L, huyện V, tỉnh Nam Định cấp ngày 12/11/2020) theo quy định pháp luật.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị T1 được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm. Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ